Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Diễn

Ông Sơn Ken

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 73/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

- Nguyễn Thị T, sinh ngày 07/01/1985, tại huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 và bà Hàn Thị T1, sinh năm 1962; bị cáo có chồng tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 01/01/1989 và 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng có tiền án, tiền sự; bị khởi tố vào ngày 16/4/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 11/6/2024, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Ông Nguyễn Hoài T3, sinh năm 1996. Địa chỉ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Lâm Thị L, sinh năm 1992. Địa chỉ ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Kim Thị T4, sinh năm 1992. Địa chỉ ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Phan Văn Q, sinh năm 1988. Địa chỉ khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Trần Thị Hồng H, sinh năm 1985. Địa chỉ ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Phan Thị Thanh B, sinh năm 1992. Địa chỉ ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 15/4/2024, nhận được nguồn tin tố giác của bà Phan Thị Thanh B, sinh ngày 01/01/1992 nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh đối với bị cáo Nguyễn Thị T có hành vi cho vay lãi nặng vượt lãi suất quy định đối với một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người vay) trên địa bàn huyện T, tỉnh Trà Vinh. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành kiểm tra xác minh làm rõ nguồn tin tố giác và mời bị cáo T làm việc. Tại Cơ quan Công an, bị cáo đã thừa nhận cho 06 người vay tiền với nhiều gói vay khác nhau từ khoảng tháng 4 năm 2023, cụ thể như sau:

  1. Ông Nguyễn Hoài T3, sinh ngày 20/5/1996 nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vay 01 lần.

    Vào ngày 10/10/2023, vay số tiền 20.000.000 đồng (không thu phí vay), kỳ hạn vay là 14 tháng (mỗi tháng thỏa thuận là 30 ngày) tương đương 420 ngày. Anh T3 đóng tiền gốc và lãi suất mỗi tháng là 3.500.000 đồng/tháng (tiền gốc và lãi tương đương mỗi ngày là 116.667 đồng/ngày). Trong đó, số tiền gốc phải trả trong một ngày là 20.000.000 đồng/420 ngày = 47.619 đồng/1 ngày.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền vay 20.000.000 đồng/1 lần không quá 20%/năm. Bị cáo T cho anh T3 vay thời hạn trả tính theo tháng nên lãi suất không quá 328.767 đồng/tháng (tương đương 10.958 đồng/1 ngày), tổng tiền lãi suất 420 ngày (tương đương 14 tháng), không quá 4.602.738 đồng/1 lần vay. Bị cáo T thu tiền gốc và lãi suất mỗi tháng 3.500.000 đồng nên số tiền lãi suất mà bị cáo thu được là 3.500.000 đồng - 1.428.570 đồng = 2.071.440 đồng/tháng (tương đương số tiền lãi suất mỗi ngày mà bị cáo thu được là 116.667 đồng - 47.619 đồng = 69.048 đồng/1 ngày) gấp 6,30 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự, bằng 126%/năm.

    Anh T3 đã đóng cho bị cáo 02 tháng (tương đương 60 ngày) với tổng số tiền gốc là 7.000.000 đồng, tổng số tiền lãi suất là 4.142.880 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 657.534 đồng. Như vậy, số tiền lãi suất bị cáo T thu lợi bất chính là 4.142.880 đồng - 657.534 đồng = 3.485.346 đồng. Số tiền gốc anh T3 còn nợ chưa trả cho bị cáo 12 tháng (tương đương 360 ngày) số tiền 17.142.840 đồng.

  2. Chị Lâm Thị L, sinh ngày 01/01/1992 nơi cư trú: ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh vay 02 lần.

    Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 4 năm 2023 (không nhớ ngày cụ thể), vay số tiền 1.000.000 đồng (không thu phí vay), kỳ hạn vay không xác định ngày trả tiền gốc. Chị L phải đóng tiền lãi suất mỗi tháng là 300.000 đồng/tháng (mỗi tháng thỏa thuận là 30 ngày) tiền lãi tương đương mỗi ngày là 10.000 đồng/ngày.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền vay 1.000.000 đồng/1 lần không quá 20%/năm. Bị cáo T cho chị L vay thời hạn trả tính theo tháng nên lãi suất không quá 16.440 đồng/tháng (tương đương 548 đồng/1 ngày). Bị cáo T thu tiền lãi suất mỗi tháng 300.000 đồng nên số tiền lãi suất mà bị cáo thu được là 300.000 đồng - 16.440 đồng = 283.560 đồng/tháng (tương đương số tiền lãi suất mỗi ngày mà bị cáo thu được là 10.000 đồng - 548 đồng = 9.452 đồng/1 ngày) gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự, bằng 365%/năm.

    Chị L đã đóng tiền lãi cho bị cáo 04 tháng (tương đương 120 ngày) với tổng số tiền lãi là 1.200.000 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 65.760 đồng. Như vậy, số tiền lãi suất bị cáo T thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng - 65.760 đồng = 1.134.240 đồng. Số tiền gốc chị L còn nợ chưa trả cho bị cáo 1.000.000 đồng.

    Lần thứ hai: Khoảng tháng 10 năm 2023 (không nhớ ngày cụ thể), vay số tiền 10.000.000 đồng (không thu phí vay), kỳ hạn vay 20 tháng (mỗi tháng thỏa thuận là 30 ngày) tương đương 600 ngày. Chị L phải đóng tiền gốc và lãi suất mỗi tháng là 1.500.000 đồng/tháng (tiền gốc và lãi tương đương mỗi ngày là 50.000 đồng/ngày). Trong đó, số tiền gốc phải trả trong một ngày là 10.000.000 đồng/600 ngày = 16.666 đồng/1 ngày).

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền vay 10.000.000 đồng/1 lần không quá 20%/năm. Bị cáo T cho chị L vay thời hạn trả tính theo tháng nên lãi suất không quá 164.370 đồng/tháng (tương đương 5.479 đồng/1 ngày), tổng tiền lãi suất 20 tháng (tương đương 600 ngày), không quá 3.287.400 đồng/1 lần vay. Bị cáo T thu tiền gốc và lãi suất mỗi tháng 1.500.000 đồng nên số tiền lãi suất mà bị cáo thu được là 1.500.000 đồng - 499.980 đồng = 1.000.020 đồng/tháng (tương đương số tiền lãi suất mỗi ngày mà bị cáo thu được là 50.000 đồng - 16.666 đồng = 33.334 đồng/1 ngày) gấp 6,08 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự, bằng 121,6%/năm.

    Chị L đã đóng cho bị cáo 03 tháng (tương đương 90 ngày) với tổng số tiền gốc là 1.500.000 đồng, tổng số tiền lãi suất là 3.000.000 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 657.534 đồng. Như vậy, số tiền lãi suất bị cáo T thu lợi bất chính là 3.000.000 đồng - 493.110 đồng = 2.506.890 đồng. Số tiền gốc chị L còn nợ chưa trả cho bị cáo 17 tháng (tương đương 510 ngày) số tiền 8.500.000 đồng.

  3. Chị Kim Thị T4, sinh năm 1992 nơi cư trú: ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh vay 01 lần.

    Vào khoảng tháng 4 năm 2023 (không nhớ ngày cụ thể), vay số tiền 15.000.000 đồng (không thu phí vay), kỳ hạn vay không xác định ngày trả tiền gốc. Chị T4 phải đóng tiền lãi suất mỗi tháng là 1.500.000 đồng/tháng (mỗi tháng thỏa thuận là 30 ngày) tiền lãi tương đương mỗi ngày là 50.000 đồng/ngày.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền vay 15.000.000 đồng/1 lần không quá 20%/năm. Bị cáo T cho chị T4 vay thời hạn trả tính theo tháng nên lãi suất không quá 246.570 đồng/tháng (tương đương 8.219 đồng/1 ngày). Bị cáo T thu tiền lãi suất mỗi tháng 1.500.000 đồng nên số tiền lãi suất mà bị cáo thu được là 1.500.000 đồng - 246.570 đồng = 1.253.430 đồng/tháng (tương đương số tiền lãi suất mỗi ngày mà bị cáo thu được là 50.000 đồng - 8.219 đồng = 41.781 đồng/1 ngày) gấp 6,08 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự, bằng 121,6%/năm.

    Chị T4 đã đóng lãi cho bị cáo được 05 tháng (tương đương 150 ngày) với tổng số tiền lãi là 7.500.000 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.232.850 đồng. Như vậy, số tiền lãi suất bị cáo T thu lợi bất chính là 7.500.000 đồng - 1.232.850 đồng = 6.267.150 đồng. Đến khoảng tháng 9 năm 2023, chị T4 đã trả đủ tiền gốc cho bị cáo.

  4. Anh Phan Văn Q, sinh ngày 15/7/1988 nơi cư trú: Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vay 01 lần.

    Vào khoảng tháng 4 năm 2023 (không nhớ ngày cụ thể), vay số tiền 25.000.000 đồng (không thu phí vay), kỳ hạn vay không xác định ngày trả tiền gốc. Anh Q phải đóng tiền lãi suất mỗi ngày là 250.000 đồng/ngày.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền vay 25.000.000 đồng/1 lần không quá 20%/năm. Bị cáo T cho anh Q vay thời hạn trả tính theo ngày nên lãi suất không quá 13.699 đồng/ngày. Bị cáo T thu tiền lãi suất mỗi ngày 250.000 đồng nên số tiền lãi suất mà bị cáo thu được là 250.000 đồng - 13.699 đồng = 236.301 đồng/ngày (gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự, bằng 365%/năm).

    Anh Q đã đóng lãi suất cho bị cáo được 60 ngày với tổng số tiền lãi là 15.000.000 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 821.940 đồng. Như vậy, số tiền lãi suất bị cáo T thu lợi bất chính là 15.000.000 đồng - 821.940 đồng = 14.178.060 đồng. Đến nay anh Q đã trả tiền gốc cho bị cáo được số tiền 10.000.000 đồng và số tiền gốc còn nợ chưa trả là 15.000.000 đồng.

  5. Chị Trần Thị Hồng H, sinh ngày 01/01/1985 nơi cư trú: ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh vay 01 lần.

    Vào khoảng tháng 4 năm 2023 (không nhớ ngày cụ thể), vay số tiền 12.000.000 đồng (không thu phí vay), kỳ hạn vay không xác định ngày trả tiền gốc. Chị H phải đóng tiền lãi suất mỗi ngày là 120.000 đồng/ngày.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền vay 12.000.000 đồng/1 lần không quá 20%/năm. Bị cáo T cho chị H vay thời hạn trả tính theo ngày nên lãi suất không quá 6.575 đồng/ngày. Bị cáo T thu tiền lãi suất mỗi ngày 120.000 đồng nên số tiền lãi suất mà bị cáo thu được là 120.000 đồng - 6.575 đồng = 113.425 đồng/ngày (gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự, bằng 365%/năm).

    Chị H đã đóng lãi suất cho bị cáo được 91 ngày với tổng số tiền lãi là 10.920.000 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 598.325 đồng. Như vậy, số tiền bị cáo T thu lợi bất chính là 10.920.000 đồng - 598.325 đồng = 10.321.675 đồng, chị H chưa trả tiền gốc cho bị cáo số tiền 12.000.000 đồng.

  6. Chị Phạm Thị Thanh B1, sinh ngày 01/01/1992 nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh vay 01 lần.

    Vào ngày 26/4/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng (không thu phí vay), kỳ hạn vay 24 tháng (mỗi tháng thỏa thuận là 30 ngày) tương đương 720 ngày. Chị B1 phải đóng tiền gốc và lãi suất mỗi tháng là 2.000.000 đồng/tháng (tiền gốc và lãi tương đương mỗi ngày là 66.667 đồng/ngày). Trong đó, số tiền gốc phải trả trong một ngày là 10.000.000 đồng/720 ngày = 13.889 đồng/1 ngày.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền vay 10.000.000 đồng/1 lần không quá 20%/năm. Bị cáo T cho chị B1 vay thời hạn trả tính theo tháng nên lãi suất không quá 164.370 đồng/tháng (tương đương 5.479 đồng/1 ngày), tổng tiền lãi suất 720 ngày (tương đương 24 tháng), không quá 3.944.880 đồng/1 lần vay. Bị cáo T thu tiền gốc và lãi suất mỗi tháng 2.000.000 đồng nên số tiền lãi suất mà bị cáo thu được là 2.000.000 đồng - 416.670 đồng = 1.583.330 đồng/tháng (tương đương số tiền lãi suất mỗi ngày mà bị cáo thu được là 66.667 đồng - 13.889 đồng = 52.778 đồng/1 ngày) gấp 9,63 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự, bằng 192,6%/năm.

    Chị B1 đã đóng cho bị cáo được 09 tháng (tương đương 270 ngày) với tổng số tiền gốc là 3.750.030 đồng, tổng số tiền lãi suất là 14.250.060 đồng, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.479.330 đồng. Như vậy, số tiền bị cáo T thu lợi bất chính là 14.250.060 đồng - 1.479.330 đồng = 12.770.730 đồng. Số tiền gốc chị B1 nợ chưa trả cho bị cáo 15 tháng (tương đương 450 ngày) số tiền 6.250.050 đồng.

Như vậy số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu lãi của 06 người nêu trên là 50.664.091 đồng, với mức lãi suất cho vay từ 121,6% đến 365%/năm (cao gấp 6,08 lần đến 18,25 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự mà Nhà nước quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự). Số tiền gốc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn nợ chưa trả cho bị cáo là 59.892.840 đồng.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định tạm giữ tài sản đồ vật, tài liệu của bị cáo gồm:

  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi A2+, màu xanh, số IMEI 1: 865189063013044; số IMEI 2: 865189063013051, có gắn sim số 0339975560, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) thẻ căn cước công dân, đứng tên Nguyễn Hoài T3, số [...].
  • - 01 (một) thẻ ngân hàng V, đứng tên Nguyễn Hoài T3, số thẻ 9704366611797578013.
  • - 01 (một) thẻ căn cước công dân, đứng tên Lâm Thị L, số [...].

Đối với chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi A2+, màu xanh, có gắn sim số 0339975560, đã qua sử dụng đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Bị cáo sử dụng điện thoại nêu trên để liên lạc với những người vay tiền nhằm mục đích cho vay tiền, thu tiền gốc và lãi từ người vay. Đồng thời, để xem lịch những ngày mà những người vay tiền chưa góp cho bị cáo.

Đối với xe môtô mà bị cáo đã mượn của người khác để đi thu tiền gốc và lãi, do bị cáo không nhớ đã mượn từ ai và không còn nhớ đặc điểm của xe môtô (do thời gian quá lâu) nên Cơ quan điều tra không làm việc được với chủ xe môtô trên. Do đó, sẽ tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xem xét xử lý sau.

Riêng đối với các thẻ căn cước công dân, đứng tên Lâm Thị L, số [...]; thẻ căn cước công dân, đứng tên Nguyễn Hoài T3 số [...] và thẻ ngân hàng V, đứng tên Nguyễn Hoài T3 số thẻ 9704366611797578013 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông T3 và bà L sử dụng thế chấp cho bị cáo T để vay tiền.

Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS-HS, ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T trình bày: Thừa nhận hành vi cho ông Nguyễn Hoài T3, bà Lâm Thị L, bà Kim Thị T4, ông Phan Văn Q, bà Trần Thị Hồng H và bà Phạm Thị Thanh B1 vay tiền với mức lãi suất cho vay từ 121,6% đến 365%/năm, với thời gian cho vay, số tiền vay từng lần và số tiền lãi thực tế đã nhận của những người vay tiền có tên nói trên đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong quá trình điều tra, bị cáo được đối chiếu số nợ gốc, tiền lãi đã nhận với những người vay tiền nói trên và cùng ký xác nhận về số tiền vay, mức lãi suất, tiền lãi đã nhận nên bị cáo Nguyễn Thị T không thay đổi lời khai.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi A2+ đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị T; đề nghị trả lại cho ông Nguyễn Hoài T3 01 (một) thẻ căn cước công dân và 01 (một) thẻ ngân hàng tên Nguyễn Hoài T3; đề nghị trả lại cho bà Lâm Thị L 01 (một) thẻ căn cước công dân, đứng tên Lâm Thị L.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị:

  • - Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) phải nộp số tiền nợ gốc đã vay của bị cáo Nguyễn Thị T mà chưa trả cho bị cáo để bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 59.892.840 đồng (Trong đó, ông Nguyễn Hoài T3 số tiền 17.142.840 đồng; bà Lâm Thị L số tiền 9.500.000 đồng; ông Phan Văn Q số tiền 15.000.000 đồng; bà Trần Thị Hồng H số tiền 12.000.000 đồng và bà Phan Thị Thanh B số tiền 6.250.000 đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp số tiền thu lãi vượt 20%/năm (thu lợi bất chính) để trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) với tổng số tiền là 50.664.091 đồng (Trong đó, ông Nguyễn Hoài T3 số tiền 3.485.346 đồng; bà Lâm Thị L số tiền 3.641.130 đồng; bà Kim Thị T4 số tiền 6.267.150 đồng; ông Phan Văn Q số tiền 14.178.060 đồng; bà Trần Thị Hồng H số tiền 10.321.675 đồng và bà Phan Thị Thanh B số tiền 12.770.730 đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp số tiền nợ gốc 93.000.000 đồng và tiền lãi 20% không vượt quá lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự 2015 số tiền 5.349.012 đồng mà bị cáo đã cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay để sung vào ngân sách nhà nước với tổng số tiền 98.349.012 đồng, được trừ đi số tiền 59.892.840 đồng. Số tiền còn lại bị cáo phải nộp là 38.456.172 đồng.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị T tự bào chữa: Do hoàn cảnh khó khăn, bị cáo xin được hưởng án treo hoặc hình phạt khác không phải hình phạt tiền.

Kiểm sát viên tranh luận, đối đáp với bị cáo: Mặt dù bị cáo đủ điều kiện để hưởng án treo, nhưng quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 chỉ quy định hình phạt chính là phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ chứ không có hình phạt tù. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng là có xem xét, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Do bị cáo không am hiểu pháp luật nên mới vi phạm pháp luật, bị cáo hứa sẽ không dám tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T có lời khai khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2023 đến ngày 15/4/2024, trên địa bàn huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Nguyễn Thị T đã có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với ông Nguyễn Hoài T3, bà Lâm Thị L, bà Kim Thị T4, ông Phan Văn Q, bà Trần Thị Hồng H và bà Phạm Thị Thanh B1 tổng số tiền vay 93.000.000 đồng, những người vay còn nợ tổng số nợ gốc là 59.892.840 đồng, với mức lãi suất cho vay từ 121,6% đến 365%/năm (cao gấp 6,08 lần đến 18,25 lần) so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự mà Nhà nước quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính số tiền 50.664.091 đồng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị T là phù hợp với lời khai của những người vay tiền, phù hợp với vật chứng thu giữ như thẻ căn cước công dân của ông Nguyễn Hoài T3, thẻ căn cước công dân đứng tên Lâm Thị L, thẻ ngân hàng V đứng tên Nguyễn Hoài T3 và điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi A2+ của bị cáo.

[2] Theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định mức lãi suất do các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm/một khoản tiền vay. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận mức lãi suất bị cáo Nguyễn Thị T cho ông Nguyễn Hoài T3, bà Lâm Thị L, bà Kim Thị T4, ông Phan Văn Q, bà Trần Thị Hồng H và bà Phạm Thị Thanh B1 vay từ 121,6% đến 365%/năm (cao gấp 6,08 lần đến 18,25 lần) so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự mà Nhà nước quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, thu lợi bất chính số tiền 50.664.091 đồng. Tổng số tiền vay còn nợ là 59.892.840 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng, kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của những người vay tiền trong vụ án, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Qua tranh tụng có căn cứ xác định chỉ có bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi phạm tội mà không có đồng phạm khác. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T cho 06 người vay tiền với tổng số tiền cho vay 93.000.000 đồng, với lãi suất cao trên 05 lần của mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và thu lãi bất chính số tiền trên 30.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định, bị cáo T không có hành dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe hoặc có hành vi khác để lấy tài sản nên không xem xét xử lý hình sự bị cáo về tội phạm tương ứng. Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thì hành vi của bị cáo T cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, nhằm để giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tươngKhi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xét bị cáo có trình độ học vấn thấp nên việc am hiểu pháp luật có phần bị hạn chế; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 cần buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) phải nộp số tiền nợ gốc đã vay của bị cáo Nguyễn Thị T mà chưa trả cho bị cáo để bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước với tổng số tiền 59.892.840 đồng (Trong đó, ông Nguyễn Hoài T3 số tiền 17.142.840 đồng; bà Lâm Thị L số tiền 9.500.000 đồng; ông Phan Văn Q số tiền 15.000.000 đồng; bà Trần Thị Hồng H số tiền 12.000.000 đồng và bà Phan Thị Thanh B số tiền 6.250.000 đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp số tiền thu lãi vượt 20%/năm (thu lợi bất chính) để trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) với tổng số tiền là 50.664.091 đồng (Trong đó, ông Nguyễn Hoài T3 số tiền 3.485.346 đồng; bà Lâm Thị L số tiền 3.641.130 đồng; bà Kim Thị T4 số tiền 6.267.150 đồng; ông Phan Văn Q số tiền 14.178.060 đồng; bà Trần Thị Hồng H số tiền 10.321.675 đồng và bà Phan Thị Thanh B số tiền 12.770.730 đồng).

Buộc bị cáo T nộp số tiền nợ gốc 93.000.000 đồng cho 06 người vay gồm ông T3, ông Q, bà H, bà L, bà T4, bà B và tiền lãi 20% không vượt quá lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự 2015 số tiền 5.349.012 đồng mà bị cáo đã cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay để sung vào ngân sách nhà nước với tổng số tiền 98.349.012 đồng, nhưng được trừ đi số tiền 59.892.840 đồng. Số tiền còn lại bị cáo phải nộp là 38.456.172 đồng.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi A2+, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo Nguyễn Thị T dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại cho ông Nguyễn Hoài T3 01 (một) thẻ căn cước công dân, đứng tên Nguyễn Hoài T3 và 01 (một) thẻ ngân hàng V, đứng tên Nguyễn Hoài T3. Trả lại cho bà Lâm Thị L 01 (một) thẻ căn cước công dân, đứng tên Lâm Thị L.

[6] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng là hình phạt chính sung vào ngân sách nhà nước.

Các biện pháp tư pháp:

Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  • - Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) phải nộp số tiền nợ gốc đã vay của bị cáo Nguyễn Thị T mà chưa trả cho bị cáo để bị cáo nộp sung vào ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 59.892.840 đồng (Trong đó, ông Nguyễn Hoài T3 17.142.840 đồng; bà Lâm Thị L 9.500.000 đồng; ông Phan Văn Q 15.000.000 đồng; bà Trần Thị Hồng H 12.000.000 đồng và bà Phan Thị Thanh B 6.250.000 đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp số tiền thu lãi vượt 20%/năm (thu lợi bất chính) để trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) với tổng số tiền là 50.664.091 đồng (Trong đó, trả cho ông Nguyễn Hoài T3 3.485.346 đồng, bà Lâm Thị L 3.641.130 đồng, bà Kim Thị T4 6.267.150 đồng, ông Phan Văn Q 14.178.060 đồng, bà Trần Thị Hồng H 10.321.675 đồng và bà Phan Thị Thanh B 12.770.730 đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp số tiền nợ gốc và tiền lãi 20% không vượt quá lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự 2015 bằng 38.456.172 đồng.

Về vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi A2+, màu xanh, số IMEI 1: 865189063013044; số IMEI 2: 865189063013051, có gắn sim số 0339975560, đã qua sử dụng.

Trả lại cho ông Nguyễn Hoài T3 01 (một) thẻ căn cước công dân, đứng tên Nguyễn Hoài T3, số [...] và 01 (một) thẻ ngân hàng V, đứng tên Nguyễn Hoài T3, số thẻ 9704366611797578013.

Trả lại cho bà Lâm Thị L 01 (một) thẻ căn cước công dân, đứng tên Lâm Thị L, số [...].

Tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS31903418, có chữ ký của Điều tra viên Cao Minh T5 và chữ ký của Nguyễn Thị T.

Về án phí:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án niêm yết công khai, hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

“Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật T hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thihành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thùy cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger