Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

TỈNH B

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH B

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh T
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết X
  • Bà Hoàng Thị M
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn P - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn M – Kiểm sát viên.

Ngày 24/7/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tr; (tên gọi khác: không có); Sinh năm 2001 tại: Campuchia; Giới T: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; Nơi cư trú; ấp S, xã V, huyện Đ, tỉnh N; Nơi ở hiện tại: Ấp 1, xã Tiến H, TP Đồng X, tỉnh B; con ông Trần Minh H, sinh năm 1978 và bà Lê Thị Thùy T, sinh năm 1979. Bị cáo có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1992 và nhỏ nhất, sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Nhân nhân: Ngày 10/01/2023, bị Công an thành phố Đồng Xoài, tỉnh B xử phạt hành chính với số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” bị cáo chưa chấp hành.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/11/2023 cho đến nay.

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh B truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

* Bị hại:

  • + Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1999(vắng mặt).
  • Trú tại: Áp A, xã Mỹ Ph, huyện Mỹ T tỉnh Sóc Tr.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Tr và Nguyễn Văn T là bạn bè, T thuê nhà trọ để ở tại đường N6, khu 17ha thuộc khu phố Bàu Ké, thị trấn Tân Phú, huyện Đ, tỉnh B do Trần Văn Nhu làm chủ. Ngày 29/10/2021, ông T đi chơi cùng bạn và mượn điện thoại của Trọng để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 31/10/2021, ông T về lại nhà trọ thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với bị cáo Trọng về việc Trọng không liên lạc được với T để lấy lại điện thoại dẫn đến Trọng bực tức cầm 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại trong phòng trọ chém liên tiếp 02 (hai) nhát vào cánh tay trái của T gây thương tích. T bỏ chạy thì Trọng đuổi theo, lấy trong túi quần ra 01 (một) khẩu súng pháo nhắm về hướng T bỏ chạy bắn 01 (một) phát với mục đích hù dọa rồi Trọng bỏ đi, còn T đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Ngày 15/11/2021, ông T làm đơn yêu khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu giám định thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 345 ngày 06/12/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh B, kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • Sẹo cánh tay trái 1/3 giữa - dưới mặt sau kích thước 11x0,5cm gọn.
    • Mẻ 1/3 giữa xương cánh tay trái.

    Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động gây ra.

  2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 04% (Bốn phần trăm).
  3. Kết luận khác: Không.

Theo Kết luận giám định số 2106 ngày 29/3/2024 của Phân viện khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an, kết luận:

  1. Khẩu súng gửi giám định là súng pháo thuộc danh mục đồ chơi nguy hiểm, không phải vũ khí quân dụng.
  2. Sử dụng khẩu súng gửi giám định tác động vào cơ thể người có thể gây thương tích.

Thu giữ vật chứng vụ án:

  • 01 (một) con dao dài 88 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 44,5cm, bản rộng nhất 4,5 cm; cán dao bằng kim loại dài 43,5 cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) khẩu súng bắn pháo (kiểu khẩu súng rulo), thân súng bằng kim loại dài 12cm, báng súng bằng nhựa dài 7,5 cm.
  • 01 (một) hộp quẹt lửa bằng kim loại (kiểu khấu súng CZ83), trên thân súng có chữ CZ 83 CAL.7.65BROWNING MADE IN CHINA.
  • 03 (ba) con dao dài 59 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 47cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 12 cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) con dao dài 81 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 45cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng kim loại dài 36 cm, đường kính 2,5 cm);
  • 01 (một) con dao dài 90 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, bản rộng nhất 5cm; cán dao bằng kim loại được bao quanh bằng băng keo màu đen dài 50 cm, đường kính 3cm);
  • 01 (một) con dao dài 79 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 57cm, bản rộng nhất 4,3cm; cán dao bằng kim loại bao quanh bằng băng keo đen dài 22 cm);
  • 01 (một) con dao dài 55,3 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 37,3cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 18 cm);
  • 01 (một) con dao dài 48 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 34cm, bản rộng nhất 5,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 14 cm);
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 79 cm, đường kính 2,5cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 75cm, đường kính 1,8cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 72cm, đường kính 1,8cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 70cm, đường kính 1,8cm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T đã bỏ đi khỏi địa phương nên không làm việc được với T về vấn đề yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 23/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh B truy tố bị cáo Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khỏan 1, khỏan 2 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự:

Đề nghị xử phạt bị cáo Trọng mức án 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tiêu hủy:

  • 01 (một) con dao dài 88 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 44,5cm, bản rộng nhất 4,5 cm; cán dao bằng kim loại dài 43,5 cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) khẩu súng bắn pháo (kiểu khẩu súng rulo), thân súng bằng kim loại dài 12cm, báng súng bằng nhựa dài 7,5 cm.
  • 01 (một) hộp quẹt lửa bằng kim loại (kiểu khẩu súng CZ83), trên thân súng có chữ CZ 83 CAL.7.65BROWNING MADE IN CHINA.
  • 03 (ba) con dao dài 59 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 47cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 12 cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) con dao dài 81 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 45cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng kim loại dài 36 cm, đường kính 2,5 cm);

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại Nguyễn Văn T đã bỏ đi khỏi địa phương nên không làm việc được với T về vấn đề yêu cầu bồi thường dân sự do đó đề nghị Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Tr đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Tr đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 28/CTr -VKS ngày 19/3/2024 mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh B đã truy tố đối với bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định pháp y, phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, biên bản hiện trường, tang vật của vụ án cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 21/10/2021, do bực tức trong việc mượn và trả điện thoại, bị cáo Tr đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém, gây thương tích cho ông Nguyễn Văn T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 4%(bốn phần trăm) tại khu phố Bàu Ké, thị trấn Tân Phú, huyện Đ, tỉnh B, hành vi của bị cáo Trọng đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình đạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác là khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật trự trị an tại địa phương, coi thường sức khỏe của người khác ảnh hưởng đến đời sống lành mạnh của cộng đồng dân cư nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Chỉ vì trứớc đó bị hại mượn điện thoại chưa kịp trả, trước đó không có mâu thuẫn gì, nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi dùng dao tự chế là “hung khí nguy hiểm” chém 02 nhất vào cánh tay trái của bị hại gây thương tích cho người bị hại ở cánh tay trái với tỷ lệ thương tích 04% đây là tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng điều khoản quy định của pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức và buộc phải nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm để chém bị hại là trái pháp luật sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng với bản T nóng nảy, côn đồ, hung hãn xem thường T mạng của người khác nên bị cáo đã dùng hung khí đánh bị hại và gây thiệt hại đến sức khỏe của bị hại như đã viện dẫn ở trên.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 10/01/2023, bị cáo đã bị Công an thành phố Đồng Xoài xử phạt hành chính với số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” bị cáo chưa chấp hành đóng phạt, do đó thiết nghĩ với hành vi của bị cáo Trọng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và hậu quả bị cáo đã gây ra để nhằm răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình sự đề xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

[3] Đối với hành vi dùng súng (loại súng bắn pháo) không phải là súng quân dụng để bắn hù dọa T, cơ quan CSĐT không xem xét dấu hiệu hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bị hại ông Nguyễn Văn T không có ý kiến yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại và tại phiên tòa vắng mặt nên sẽ tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • 01 (một) con dao dài 88cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 44,5cm, bản rộng nhất 4,5 cm; cán dao bằng kim loại dài 43,5cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) khẩu súng bắn pháo (kiểu khẩu súng rulo), thân súng bằng kim loại dài 12cm, báng súng bằng nhựa dài 7,5cm.
  • 01 (một) hộp quẹt lửa bằng kim loại (kiểu khẩu súng CZ83), trên thân súng có chữ CZ 83 CAL.7.65BROWNING MADE IN CHINA.
  • 03 (ba) con dao dài 59cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 47cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 12cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) con dao dài 81cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 45cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng kim loại dài 36cm, đường kính 2,5 cm);
  • 01 (một) con dao dài 90cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, bản rộng nhất 5cm; cán dao bằng kim loại được bao quanh bằng băng keo màu đen dài 50cm, đường kính 3cm);
  • 01 (một) con dao dài 79cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 57cm, bản rộng nhất 4,3cm; cán dao bằng kim loại bao quanh bằng băng keo đen dài 22 cm);
  • 01 (một) con dao dài 55,3cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 37,3cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 18cm);
  • 01 (một) con dao dài 48cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 34cm, bản rộng nhất 5,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 14cm);
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 79cm, đường kính 2,5cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 75cm, đường kính 1,8cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 72cm, đường kính 1,8cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 70cm, đường kính 1,8cm.

Là các vật chứng vụ án nên cần tuyên tiêu hủy.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khỏan 1, Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Tr 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù T từ ngày bị cáo đi thi hành án.

+ Về trách nhiệm dân sự: không.

+ Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) con dao dài 88cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 44,5cm, bản rộng nhất 4,5 cm; cán dao bằng kim loại dài 43,5 cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) khẩu súng bắn pháo (kiểu khẩu súng rulo), thân súng bằng kim loại dài 12cm, báng súng bằng nhựa dài 7,5 cm.
  • 01 (một) hộp quẹt lửa bằng kim loại (kiểu khẩu súng CZ83), trên thân súng có chữ CZ 83 CAL.7.65BROWNING MADE IN CHINA.
  • 03 (ba) con dao dài 59 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 47cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 12 cm, đường kính 2,5cm);
  • 01 (một) con dao dài 81 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 45cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng kim loại dài 36 cm, đường kính 2,5 cm);
  • 01 (một) con dao dài 90 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, bản rộng nhất 5cm; cán dao bằng kim loại được bao quanh bằng băng keo màu đen dài 50 cm, đường kính 3cm);
  • 01 (một) con dao dài 79 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 57cm, bản rộng nhất 4,3cm; cán dao bằng kim loại bao quanh bằng băng keo đen dài 22 cm);
  • 01 (một) con dao dài 55,3 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 37,3cm, bản rộng nhất 4,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 18 cm);
  • 01 (một) con dao dài 48 cm (lưỡi dao bằng kim loại dài 34cm, bản rộng nhất 5,7 cm; cán dao bằng gỗ dài 14 cm);
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 79 cm, đường kính 2,5cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 75cm, đường kính 1,8cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 72cm, đường kính 1,8cm;
  • 01 (một) cây tuýp bằng kim loại dạng ống dài 70cm, đường kính 1,8cm.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tr phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh B;
  • - Công an, VKSND huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH B về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH B
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh Tr bị xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger