TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HSST
Ngày: 24/7/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Huệ;
- Ông Trần Đức Hòa,
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/HSST ngày 7 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nông Văn H, sinh năm 1986, tại tỉnh Cao Bằng.
Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 10/8/2021.
Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn U và bà Nguyễn Thị Đ; bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 02 người con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/6/2013, bị Toà án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 10 tháng tù, về Tội chống người thi hành công vụ, theo quy định tại điều 257 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 61/2013/HSST ngày 26/6/2013. Đã chấp hành xong Bản án, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 cho đến nay, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 02/4/2024, sau khi bán hạt điều được 800.000 đồng thì Nông Văn H đi bộ đến khu vực thôn F, xã T, huyện B mua 1,8255 gam ma túy, loại Heroine với giá 600.000 đồng của người tên T (không rõ nhân thân, lý lịch). Sau khi mua được ma túy, H bỏ vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người, rồi đi nhờ xe mô tô đi về rẫy tại thôn B, xã Đ, huyện B. Huyên lấy gói ma túy chia nhỏ thành 02 gói nylon có chứa ma túy để ở túi áo ngực bên trái, rồi cùng Lê Thị T1 (là người sống như vợ chồng với H) đi bộ về nhà H tại thôn B, xã Đ, huyện B. Lúc 23 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ tiến hành kiểm tra, phát hiện trên người Huyên có 02 gói ma túy, thấy có dấu hiệu tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ niêm phong tang vật (ký hiệu M có chữ ký của H) để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Tại Kết luận giám định số: 375/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: chất màu trắng ký hiệu M có trong hai gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Heroine; có khối lượng là 1,8255 gam.
- Về vật chứng vụ án: 01 (một) bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số: 375 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh B chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.
Tại Cáo trạng số 72/CT –VKS.BĐ ngày 09/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nông Văn H về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 18 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Bị cáo Nông Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 23 giờ ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nông Văn H có hành vi tàng trữ 1,8255 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nông Văn H đã phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do lối sống buông thả, dẫn đến nghiện ma túy nên mặc dù nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đã từng có 01 tiền án về Tội chống người thi hành công vụ. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có con còn nhỏ, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo
một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Cần tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu 375 của Phòng K - Công an tỉnh B.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, do bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với Lê Thị T1 không biết việc Huyên tàng trữ ma tuý, không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người tên T (không rõ nhân thân, lý lịch) bán ma túy cho H Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo bị cáo Nông Văn H phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nông Văn H 01 năm, 06 tháng tù (một năm, sáu tháng tù).
Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu 375 của Phòng K - Công an tỉnh B.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 0010162 ngày 23/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng)[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 72/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 72/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
