|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HS-ST
Ngày: 23 - 9 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh, bà Nguyễn Thị Hệ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 27/8/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Đ (tên gọi khác: Không) sinh năm: 2002. Nơi cư trú: Bản N, xã É, huyện T, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không.
Giới tính: Nam. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lò Văn H và bà Quàng Thị B. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/7/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
*Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Minh Á - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Phùng Văn L, sinh năm 1982. Địa chỉ: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 04/7/2024, Đ đi xe buýt từ khu vực huyện T, tỉnh Hà Nam đến khu vực thành phố H, tỉnh Hưng Yên với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Sau đó Đ đi đến khu vực quốc lộ C thuộc xã L, thành phố H thì xuống xe. Đ đi loanh quanh một lúc thì gặp một người đàn ông đang đứng một mình tại đây, nhìn dáng vẻ giống người nghiện ma túy, qua nói chuyện Đ biết được người này có bán heroine, Đ liền đưa cho người này số tiền 600.000 đồng, người này cầm tiền và đưa lại cho Đ 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 03 gói giấy màu trắng, trong các gói giấy này là chất màu trắng dạng cục, bột, Đại tự xác định được đây là heroine, Đại gói lại cầm trên tay trái và đi tìm nơi sử dụng, còn người bán ma túy bỏ đi đâu Đ không biết. Sau đó Đ đi bộ một lúc đến khu vực quốc lộ C thuộc xã L, thành phố H thì gặp lực lượng Công an thành phố H yêu cầu kiểm tra đối với Đ. Do biết bản thân đang có hành vi vi phạm nên Đ đã tự giác giao nộp từ tay trái cho lực lượng Công an túi ni lông bên trong có chứa 03 gói ma túy vừa mua được. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đối với túi heroine của Đ theo quy định.
Kết luận giám định số 507/KL-KTHS(MT) ngày 07/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong có tổng khối lượng là 0,178g là ma túy loại Heroine.
Vật chứng thu giữ: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của phòng K Công an tỉnh H ghi số 507/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,152g ma túy, loại Heroine; 01 vỏ túi ni lông; các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định, hiện đang được bảo quản, quản lý theo quy định.
Quá trình điều tra Lò Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKS-TPHYngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố Lò Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo không thắc mắc nội dung bản cáo trạng và thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.
- Người bào chữa cho bị cáo, bà Đỗ Minh Á- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, rất hối hận về hành vi của mình. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là dân tộc thiểu số, phạm tội do thiếu hiểu biết. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo với hình phạt thấp nhất. Miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật sau giám định bên trong có 0,152g ma túy loại Heroine, 01 vỏ túi ni lông, các mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 04/7/2024, tại khu vực K, quốc lộ C thuộc xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,178g Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai.
[3] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trên địa bàn, góp phần làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng gia tăng. Đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hạnh phúc gia đình của chính bị cáo. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên khi phạm tội do còn thiếu hiểu biết. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 507/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,152g Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 vỏ túi ni lông, các mảnh giấy, 01 vỏ niêm phong dùng để gói và đựng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đ, Đ khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, khi mua không có ai biết, chứng kiến. Do đó không có căn cứ để xác minh, xử lý nam thanh niên này là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Đ 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2024.
[3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 507/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,152 gam ma túy loại Heroine; 01 vỏ túi ni lông; các mảnh giấy; 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định
(Vật chứng trên có đặc điểm, trọng lượng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an T với Chi cục thi hành án thành phố Hưng Yên)
[4] Về án phí. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Đ.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lò Văn Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Kim Anh |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ tàng trữ ma túy
