|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-7-2024 V/v ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Dung
- Ông Đỗ Văn Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXX-ST ngày 28/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn B; địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Bị đơn: Chị Vũ Thị H; địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 06 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Văn B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị Hà kết hôn với nhau do tự nguyện, có được tổ chức lễ cưới theo phong tục, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Sơn, huyện An Dương năm 2014. Quá trình chung sống đôi bên xảy ra mâu thuẫn kéo dài nhiều năm, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra bất hòa. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn chị H.
Về con chung: Anh B và chị H có hai con chung là Nguyễn Văn Đ sinh ngày 13/12/2014 và Nguyễn Thị Thùy D sinh ngày 12/10/2016. Anh B có nguyện vọng để cho chị H nuôi cả hai con; không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh B không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Điều 51, khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn B và chị Vũ Thị H; về con chung, giao con Nguyễn Văn Đại và Nguyễn Thị Thùy D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn cư trú tại huyện An Dương nên Tòa án nhân dân huyện An Dương thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 238 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh B và chị H được Ủy ban nhân dân xã Nam Sơn, huyện An Dương cấp chứng nhận kết hôn số 28 ngày 09/6/2014 nên hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2023 thì mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa hai bên đã trầm trọng, thỏa mãn những căn cứ cho ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh B.
[4] Về con chung: Anh B và chị H có hai con như anh B trình bày ở trên là đúng. Việc anh B để chị Hà trực tiếp nuôi con là tự nguyện, bảo đảm được quyền lợi về mọi mặt cũng như nguyện vọng được ở với mẹ của các con nên chấp nhận.
[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh B, chị H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về tài sản chung: Anh B, chị H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[7] Về án phí: Anh B phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định theo quy định của pháp luật.
2
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 147 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân:
Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn B và chị Vũ Thị H.
Về con chung:
Giao con Nguyễn Văn Đ sinh ngày 13/12/2014 và Nguyễn Thị Thùy D sinh ngày 12/10/2016 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Anh B, chị H không yêu cầu nên không giải quyết.
Về tài sản chung:
Anh B, chị H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Anh Nguyễn Văn B phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 8432 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương. Anh B đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |
3
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
