Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ - ST

Ngày 22/7/2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Nguyệt;
  2. Bà Dương Thị Bạn.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà La Lý Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1188/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Hồng X, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số H khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu B - là Luật sư, làm việc tại Công ty L1 – Đoàn luật sư Thành phố H, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí B1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Hồng X trình bày:

Lê Hồng X và ông Nguyễn Chí B1 quen biết và tự nguyện tìm hiểu sau đó đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào ngày 08/11/20216 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 188/KH/2016, cấp ngày 08/11/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà X và ông B1 chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau một thơi gian bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do B1 không có nghề nghiệp ổn định, làm ăn thua lỗ và chơi cờ bạc dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Bà Lê Hồng X và ông B1 ly thân từ khoảng 01 năm nay, bà X xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Chí B1.

Về con chung: Bà Lê Hồng X và ông Nguyễn Chí B1 có 01 con chung tên Nguyễn Lê Chí Q, sinh ngày 04/10/2016, ngoài ra không còn con chung, con riêng nào khác. Sau khi ly hôn bà Lê Hồng X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Lê Chí Q, sinh ngày 04/10/2016.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Hồng X không yêu cầu ông Nguyễn Chí B1 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Chí B1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc để cung cấp lời khai, hòa giải và tham gia phiên tòa.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Lê Hồng X và bị đơn ông Nguyễn Chí B1.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

- Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Hồng X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Chí B1 và yêu cầu nuôi con chung nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Chí B1 có nơi cư trú: Số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án: Bà Lê Hồng X và ông Nguyễn Chí B1 tìm hiểu và tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào ngày 08/11/20216 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 188/KH/2016, cấp ngày 08/11/2016 là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Lê Hồng X xác định sau khi chung sống với nhau được thời gian đầu hạnh phúc thì một thời gian sau bà Phan Thị Mỹ L và ông Nguyễn Chí B1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do B1 không có nghề nghiệp ổn định, làm ăn thua lỗ và chơi cờ bạc dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Bà Lê Hồng X và ông B1 ly thân từ khoảng 01 năm nay, bà X xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Chí B1. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà X và ông B1 không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, mỗi người có một cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X về việc yêu cầu được ly hôn với ông B1.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Lê Hồng X và ông Nguyễn Chí B1 có 01 con chung tên Nguyễn Lê Chí Q, sinh ngày 04/10/2016, sau khi ly hôn, bà X yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Q. Bà X xác định cháu N đang ở với bà X, bà X là người có việc làm, có thu nhập ổn định. Mặt khác tại bản tự khai ngày 21/3/2024 cháu Q xác định muốn ở cùng với mẹ là bà X. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà L về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục tên Nguyễn Lê Chí Q, sinh ngày 04/10/2016.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Hồng X không yêu cầu ông Nguyễn Chí B1 cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tài sản chung, nợ chung: Bà X và ông B1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 244, Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Hồng X đối với bị đơn ông Nguyễn Chí B1 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Hồng X được ly hôn ông Nguyễn Chí B1.

- Về con chung: Bà Lê Hồng X được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Lê Chí Q, sinh ngày 04/10/2016.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Hồng X về việc không yêu cầu ông Nguyễn Chí B1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm:Lê Hồng X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000863 ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương;

- VKSND thành phố Thuận An;

- Chi cục THADS thành phố Thuận An;

- UBND phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;

- Chánh án (để báo cáo);

- Các đương sự;

- Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ - ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn; tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger