Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22/7/2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Sơn Tây.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Liên N, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh B; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: ông Phan Văn Â, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Liên N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà N và ông Phan Văn  đăng ký kết hôn vào ngày 10/4/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2008, quyển số 01. Sau khi kết hôn, 02 vợ chồng sống tại nhà riêng tại địa chỉ: tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Quá trình chung sống, vợ chồng hay cải vã, lớn tiếng với nhau nhưng mâu thuẫn xảy ra thường xuyên, liên tục và đỉnh điểm là từ năm 2021. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung; mọi chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình đều do bà N gánh vác; thỉnh thoảng ông  mới đưa tiền cho bà N trang trải cuộc sống gia đình. Vì thế đầu năm 2023, bà N chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Cũng từ đó bà N và ông  không còn liên lạc, nói chuyện, quan tâm đến nhau. Bà N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Â.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Phan Anh V, sinh ngày 11/8/2009. Hiện cháu V đang sống với ông Â. Trong đơn khởi kiện bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, từ lúc vợ chồng sống ly thân cho đến nay nay thì cháu V sống cùng với ông  và cháu V cũng có nguyện vọng sống với ông Â. Vì thế bà N thay đổi yêu cầu, đề nghị giao con chung cho ông  nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà N tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu V mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi, vì bà N làm công nhân tại Công ty TNHH T, mức lương mỗi tháng hơn 10.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Phan Văn Â: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

- Về nội dung vụ án: bà Nguyễn Thị Liên N và ông Phan Văn  tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bà N xác định vợ chồng đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn ông  đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: bà N đề nghị giao con chung tên Phan Anh V, sinh ngày 11/8/2009 cho ông  trực tiếp nuôi dưỡng. Do cháu Phan Anh V hiện đang sống cùng với ông  và cháu V có nguyện vọng được sống cùng với ông  nên yêu cầu của bà N là có căn cứ chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: bà N tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Phan Anh V mỗi tháng 3.000.000 đồng, đây là ý chí tự nguyện của bà N nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án hôn nhân và gia đình, bị đơn sinh sống tại tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh B và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

[2] Sự tham gia phiên tòa của các đương sự: bị đơn ông Phan Văn  đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ lần thứ hai các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Liên N và ông Phan Văn  có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2008, quyển số 01 ngày 10/4/2008 là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Liên N xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Bà N và ông  hiện tại đã ly thân và cả hai đều không đưa ra được biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà N xác định không còn tình cảm với ông  và yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông  không đến Tòa án cho thấy ông không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, đồng thời bà N kiên quyết xin ly hôn. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông  là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà N yêu cầu ly hôn với ông  là có cơ sở chấp nhận.

[2] Về con chung: bà N và ông  có 01 con chung tên Phan Anh V, sinh ngày 11/8/2009. Khi ly hôn, bà N đề nghị giao con chung cho ông  trực tiếp nuôi dưỡng và bà N tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Phan Anh V mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử thấy: sau khi vợ chồng sống ly thân, ông  trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Anh V và cháu V cũng có nguyện vọng được sống cùng với ông Â. Do đó, yêu cầu của bà N giao cháu V cho ông  trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ chấp nhận. Bà N đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Phan Anh V mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi, xét đây là ý chí tự nguyện của bà N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 147, 227, 228, 238, 266, 269, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Liên N về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Phan Văn Â.

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Liên N được ly hôn với ông Phan Văn Â.

Về con chung: giao con chung tên Phan Anh V, sinh ngày 11/8/2009 cho ông Phan Văn  trực tiếp nuôi dưỡng.

Nguyễn Thị Liên N và ông Phan Văn  đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Liên N về việc cấp dưỡng nuôi cháu Phan Anh V, sinh ngày 11/8/2009 mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ ngày 22/7/2024 cho đến khi cháu Phan Anh V đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Về án phí ly hôn: bà Nguyễn Thị Liên N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001500 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Về án phí cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Thị Liên N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự (2);
  • - UBND phường Tân Vĩnh Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ, 8.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger