|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 72/2023/HS-ST Ngày 21 - 12 - 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nông Thị Thùy;
Bà Nông Thị Hồng Thắm.
Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trường Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2023/TLST-HS, ngày 08 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 12 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Nông Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 7 năm 1990, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn T và bà Đàm Thị L; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/12/2019 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 25/12/2019; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 05/10/2023 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 05/10/2023, Công an huyện T phát hiện Nông Văn H và kiểm tra phát hiện tại túi quần bên phải của Nông Văn H có 09 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, 01 xi lanh và 01 ống dẫn chất lỏng hiệu Novocain thu giữ tại túi quần bên phải. Đồng thời, đưa Nông Văn H cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an huyện T lập biên bản sự việc; tiến hành khám xét chỗ ở của Nông Văn H phát hiện thu giữ 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn H.
Nông Văn H khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy H1. Khoảng 16 giờ ngày 04/10/2023, H bắt xe khách đi đến ngã ba đổi tiền thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn gặp và mua với một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 10 gói ma túy Heroin giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H bắt xe khách về nhà. Đến tối cùng ngày, H đem 01 gói ma túy ra sử dụng bằng hình thức chích, còn 09 gói ma túy cất giấu trong túi quần để sử dụng dần. Khoảng 09 giờ ngày 05/10/2023, H cầm theo 09 gói ma túy đi xuống nhà thuốc ở thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn để mua xilanh và nước cất đem về sử dụng ma túy, thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ 09 gói ma túy Heroin.
Tại kết luận giám định số 1026/KL-KTHS ngày 07/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: “09 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong đựng chất bột màu trắng, được niêm phong trong 01 (một) phong bì ghi chữ Tang vật nghi ma túy thu giữ quả tang ngày 05/10/2023 đối với Nông Văn H gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,254 gam”.
Tại Bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 08/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, thừa nhận mua ma túy H1 chỉ để dùng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy bị thu giữ và vật chứng không có giá trị sử dụng; trả cho bị cáo giấy tờ tùy thân, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có căn cứ xác định bị cáo Nông Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,254 gam ma túy Heroin, hành vi này của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo tại phiên tòa, để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người phạm tội, thấy rằng: Bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nghiêm trọng với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, bị cáo phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thay đổi, tiếp tục tàng trữ để sử dụng dần và phụ thuộc vào H. Trên cơ sở đánh giá này, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, vừa đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời giúp bị cáo có điều kiện cai nghiện chất ma túy và cải tạo thành công dân sống có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác minh bị cáo không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vật chứng không có giá trị sử dụng; trả cho bị cáo giấy tờ tùy thân.
[6] Đối với người đàn ông đã bán chất ma túy cho bị cáo nhưng không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[7] Bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hướng giải quyết toàn bộ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; áp dụng các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn H 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- 3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy hoàn lại sau giám định; 01 (một) xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 (một) ống nước chất lỏng hiệu NOVOCAIN chưa qua sử dụng.
- 3.2. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nông Văn H.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nông Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 72/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
