|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 72/2023/HS-ST Ngày 21 tháng 12 năm 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm và ông Lê Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1977. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1937; anh em, ruột có chín người, bị cáo là người thứ tám; chồng là Lê Văn T1, sinh năm 1978; con có 04 người, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 18/3/2020, bị Công an xã V xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 26/3/2020.
Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1/ Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1986 (vắng mặt).
2/ Bà Lê Thị Mai V, sinh năm 1978 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/3/2020, Nguyễn Thị L bị Công an xã V, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, L đã nộp phạt ngày 26/3/2020.
Khoảng 12 giờ ngày 11/3/2021, nhận được tin của quần chúng nhân dân, Công an xã V, huyện T bắt quả tang Nguyễn Thị L đang đánh bạc được thua bằng tiền với Nguyễn Thị Kim A, Lê Thị Mai V dưới hình thức đánh bài tứ sắc, mỗi ván từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng nên lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ trên chiếu bạc 04 bộ bài tứ sắc và 60.000 đồng. Cùng ngày, Công an xã V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính L, Kim A, V mỗi người 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc và xử lý vật chứng theo quy định.
Ngày 07/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A có văn bản kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố vụ án hình sự về tội đánh bạc xảy ra vào ngày 11/3/2021 tại ấp T, xã V, huyện T. Quá trình điều tra xác định: Ngày 18/3/2020, L bị Công an xã V xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc và đã nộp phạt vào ngày 26/3/2020, đến ngày 11/3/2021 L tiếp tục đánh bạc cùng Kim A, V đã phạm tội đánh bạc.
Ngày 07/9/2023, Công an xã V ra Quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 07/9/2023 đối với Nguyễn Thị L và chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngày 28/7/2023, Nguyễn Thị L bị khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Những người làm chứng chị Nguyễn Thị Kim A, bà Lê Thị Mai V khai nhận: Ngày 11/3/2021, Kim A cùng V, L, Lê Thị Trúc L1 đánh bài tứ sắc, mỗi ván từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng, chơi được khoảng 10 ván thì bị Công an xã V bắt quả tang như nội dung vụ án đã nêu. Ngày 11/3/2021, Kim A, V bị Công an xã V xử phạt vi phạm hành chính mỗi người 1.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSTS-HS ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên tòa phát biểu luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế thuộc diện khó khăn nên không đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong vụ án này, những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng, các biên bản hoạt động tố tụng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Nguyễn Thị L đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 26/3/2020. Đến ngày 11/3/2021 Nguyễn Thị L tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài tứ sắc được thua bằng tiền thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 60.000 đồng.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Xét về tính chất vụ án thì thấy:
Bị cáo Nguyễn Thị L là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười biếng lao động, ham mê cờ bạc, muốn có tiền tiêu xài mà không mất nhiều công sức nên dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi phạm
tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác.
Xét về nhân thân, bị cáo đã bị Công an xã V, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật, nên cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào
[5] Về tình tiết giảm nhẹ:
Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế; từ giai đoạn điều tra đến tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Hội đồng xét xử xét thấy: Do bị cáo Nguyễn Thị L có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong thời gian tại ngoại, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên xét thấy không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội; có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động nghèo, thu nhập không ổn định, bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời không buộc bị cáo khấu trừ thu nhập theo quy định.
[7] Đối với Nguyễn Thị Kim A, Lê Thị Mai V tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền với Lê Thị Trúc L1 là vi phạm pháp luật. Do Kim A, V chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc là có căn cứ. Riêng đối với Lê Thị Trúc L1, không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo L cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 72/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 72/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L phạm tôi đánh bạc
