|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 21 – 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Ông Trần Trọng Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 55 /2024/HSST ngày 24/6/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12.
Nơi cư trú: Tổ G, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Cha: Nguyễn N, (đã chết), Mẹ: Phạm Thị N1, sinh năm 1952; Bị cáo có 06 anh, chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: 01 tiền án
Ngày 21/01/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HSST. Bị cáo chưa chấp hành án phí, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự, chưa xóa án tích. Tại thời điểm phạm tội mới T chưa được xóa án tích theo điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự.
Tiền sự: 01: Ngày 26/3/2024: Bị Tòa án nhân Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 07/QĐ-TA, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Bị cáo đã chấp hành Quyết định này từ ngày 16/4/2024 đến ngày 26/4/2024 thì bị bắt tạm giam.
Nhân thân: Ngày 06/9/2018, bị Công an xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước xử phạt VPHC 1.500.000₫ về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định xử phạt VPHC số 19 ngày 12/9/2018. tuy nhiên ngày 14/5/2024, Kho bạc B đã gửi công văn số 60/KBBL-KTNN trả lời không tìm thấy hồ sơ lưu trữ về Quyết định xử phạt trên.
Ngày 18/9/2018, bị Tòa án nhân Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 21 ngày 28/8/2018. Chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Bị can đã chấp hành xong Quyết định này.
Ngày 27/9/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử 09 tháng tù giam về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2012/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí.
Ngày 15/7/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 28/2014/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí.
Ngày 21/02/2024, Nguyễn Văn T có hành vi Trộm cắp tài sản tại tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Ngày 09/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Văn T. Đến ngày 26/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt được bị cáo T và tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bùi Quang D, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có đơn yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Khoảng 15 giờ ngày 21/02/2024, khi đi bộ ngang qua nhà anh Bùi Quang D và chị Lý Kim M thuộc tổ A, ấp B, xã Đ thì T thấy nhà của anh D có treo nhiều lồng nuôi chim cu bên hiên nhà nên T nảy sinh ý định lấy trộm chim. T đi vào hiên nhà anh D, quan sát thấy không có người ở nhà nên T nhặt một bao tải màu trắng, sau đó lấy một lồng chim hình tròn màu xanh bên trong có một con chim cu gáy, một lồng bẫy chim dạng hai cánh màu đen không rõ hình dạng bên trong không có chim bỏ vào bao tải màu trắng, tiếp tục đi ra bên hông nhà xe lấy một lồng chim màu xanh bên trong có một con chim cu gáy bỏ vào bao tải màu trắng rồi đi bộ ra hướng đường nhựa, đón xe ô tô khách đi về nhà tại xã T, thị xã B. Trên đường đi, T giữ lại hai lồng có chim cu gáy, đồng thời vứt bỏ lồng bẫy chim và bao tải màu trắng vào bụi cỏ ven đường. Khi về đến nhà, T treo hai lồng chim cu gáy vừa trộm được ở trước hiên nhà.
Sau khi về nhà phát hiện sự việc, chị Lý Kim M trình báo Công an xã Đ Quá trình xác minh, Công an xã Đ xác định Nguyễn Văn T là người đã thực hiện hành vi lấy trộm chim của chị Lý Kim M và anh Bùi Quang D vào ngày 21/02/2024 nên mời T về trụ sở Công an làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HDĐGTTTHS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
Tài sản 1: Giá trị tài sản 02 con cu gáy tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 110.000đ/con, thành tiền là 02 con x 110.000đ/con = 220.000đ.
Tài sản 2: Giá trị tài sản 01 cái lồng chim bằng gỗ, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 150.000đ/cái.
Tài sản 3: Giá trị tài sản 01 cái lồng chim hình bầu dục, bằng kim loại, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 200.000đ/cái.
Tài sản 4: 01 cái lồng bẫy chim, bằng kim loại đã gỉ sét, không rõ hình dạng, không có cơ sở định giá.
Tổng giá trị tài sản bị Thương chiếm đoạt của anh Bùi Quang D là 570.000₫.
Vật chứng thu giữ của vụ án: 02 con chim cu gáy; 01 cái lồng chim bằng gỗ, hình cầu, màu xanh; 01 lồng chim bằng kim loại, hình bầu dục, màu xanh.
Xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định 02 con chim cu gáy; 01 cái lồng chim bằng gỗ, hình cầu, màu xanh; 01 lồng chim bằng kim loại, hình bầu dục, màu xanh là tài sản của bị hại Bùi Quang D bị mất trộm vào ngay 21/2/2024 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh D theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Bùi Quang D đã nhận lại được tài sản nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo không tranh luận.
- Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra không có ý kiến gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý xong nên đề nghị không tiếp tục xử lý.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến, khiếu nại gì nên hợp pháp. Bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án; tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại và bị hại không yêu cầu gì thêm nên việc vắng mặt bị hại tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị hại.
-
Tại phiên tòa lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, được xác định như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2024, Nguyễn Văn T đi vào nhà của anh Bùi Quang D tại tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước lén lút chiếm đoạt 02 con chim cu gáy; 01 cái lồng chim bằng gỗ, màu xanh; 01 lồng chim bằng kim loại, màu xanh; 01 lồng bẫy chim loại hai cánh, bằng kim loại, màu đen có tổng trị giá 570.000đ.
Tuy tài sản Nguyễn Văn T chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000₫, nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội thì T đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” có khung hình phạt 02 năm 06 tháng tù theo bản án số: 08/2020/HSST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã C chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này của T đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản là chim và lồng chim của bị hại D là hành bị pháp luật cấm nhưng chỉ vì cần tiền tiều xài cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi mình gây ra.
-
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo có tiền án, tiền sự và nhân thân bị cáo rất xấu.
-
Tiền án: 01
Ngày 21/01/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HSST. Bị cáo chưa chấp hành án phí, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự, chưa xóa án tích. Tại thời điểm phạm tội mới T chưa được xóa án tích theo điểm b khoản 2 Điều 70 BLHS.
-
Tiền sự: 01
Ngày 26/3/2024: Bị Tòa án nhân Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 07/QĐ-TA, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Bị cáo đã chấp hành Quyết định này từ ngày 16/4/2024 đến ngày 26/4/2024 thì bị bắt tạm giam.
-
Nhân thân:
Ngày 06/9/2018, bị Công an xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước xử phạt VPHC 1.500.000đ về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định xử phạt VPHC số 19 ngày 12/9/2018. tuy nhiên ngày 14/5/2024, Kho bạc B đã gửi công văn số 60/KBBL-KTNN trả lời không tìm thấy hồ sơ lưu trữ về Quyết định xử phạt trên.
Ngày 18/9/2018, bị Tòa án nhân Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 21 ngày 28/8/2018. Chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Bị can đã chấp hành xong Quyết định này.
Ngày 27/9/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử 09 tháng tù giam về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2012/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí.
Ngày 15/7/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 28/2014/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí.
- Từ những tiền án, tiền sự và nhân thân trên của bị cáo cho thấy bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục; xem thường pháp luật nên cần thiết phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng trình tự, thủ tục; bị cáo và các bị hại, người liên quan khác không ý kiến, khiếu nại nên hợp pháp nên không tiếp tục xử lý.
-
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại anh Bùi Quang D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường về vấn đề dân sự nên không xem xét đến.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật và tại phiên tòa nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
-
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án 01 (một) năm tù. Thời hạn tính tù từ ngày bắt tạm giam, ngày 26/4/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng vụ án:
Vật chứng vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý đúng trình tự, thủ tục; bị cáo và bị hại, người liên quan khác không ý kiến, khiếu nại nên không tiếp tục xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại anh Bùi Quang D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường về vấn đề dân sự nên không xem xét đến.
-
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, các điều 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
