|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-6-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điều
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mến
Bà Trần Thị Kim Đồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Tiếm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa:
Thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 421/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1999
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện TÔ, tỉnh Vĩnh Long.
(Đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện TÔ, tỉnh Vĩnh Long.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/12/2023 (được sửa đổi bổ sung ngày 02/4/2024) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th và bị đơn anh Nguyễn Văn T thành hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hựu Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 04/8/2017. Thời gian chung sống được khoảng 6 năm, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Q, sinh ngày 07/11/2017 hiện đang sống với chị Th. Chị Th yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo phiên họp công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải cho phía anh T biết và triệu tập các đương sự tham gia hòa giải nhằm giúp vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh T không trình bày ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết về yêu cầu ly hôn của chị Th, đồng thời vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được giữa chị Th và anh T. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập các đương sự đến Tòa án tham gia phiên tòa sơ thẩm, chị Th đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Văn T; trú tại ấp T, xã H, huyện TÔ, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
[1.2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo luật định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th và bị đơn anh Nguyễn Văn T thành hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hựu Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 04/8/2017 nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Thời gian chung sống được khoảng 06 năm, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án giải quyết việc ly hôn với chị Th nhưng anh T không trình bày ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết về việc kiện của chị Th đồng thời vắng mặt không lý do. Điều này chứng tỏ rằng tình cảm giữa chị Th và anh T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th, xử cho chị Th ly hôn anh T là phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Q, sinh ngày 07/11/2017 hiện con đang sống với chị Th. Chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi con, chị Th không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét con chung hiện chị Th đang nuôi nên tiếp tục để con chung cho chị Th nuôi dưỡng là phù hợp các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình và ý chí nguyện vọng của Nguyễn Q. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Th là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Th nộp án phí 300.000 đồng, cấn trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị Th đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Th. Xử cho chị Nguyễn Thị Th ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Nguyễn Q, sinh ngày 07/11/2017 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Nguyễn Thị Th nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Th đã nộp theo biên lai thu số 0010946 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, chị Th đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) |
|
|
Nơi nhận:
|
Nguyễn Văn Điều |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th yêu cầu ly hôn bị đơn anh Nguyễn Văn T, chị Th yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng, tsc và nợ chung không yêu cầu
