Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 21-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt Hà
  • Ông Tòng Văn Đại

- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tráng A P; Sinh ngày 26/6/1985, tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: H' Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông dân;Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Tráng A D (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Vàng Thị P1, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ là Giàng Thị M, sinh năm 1986 và có 03 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/12/2023, tạm giam từ ngày 07/01/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

- Người làm chứng:

Anh Tòng Văn P2 (Vắng mặt).

Anh Phạm Văn H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 29/12/2023, Tráng A đi bộ từ bản Tà Hử, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu xuống bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Noong Thăng, xã P, Tráng A gặp và hỏi mua được từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 04 gói Heroine với giá 600.000 đồng. Mua được H1, Tráng A cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi Tráng A P đang ở trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì có Tòng Văn P2 (sinh năm 1992, trú tại bản Mường, xã M, huyện T) và Phạm Văn H (sinh năm 1986, trú tại bản C, xã M, huyện T) gặp Tráng A P3. Tòng Văn P2 hỏi Tráng A P3: Có Heroine bán không thì cho Tòng Văn P2 mua với số tiền 200.000 đồng. Tráng A P3 nói với Tòng Văn P2: “không bán lẻ”. Phạm Văn H đứng ở đó nghe thấy T A P3 nói vậy nên đưa thêm cho Tòng Văn P2 số tiền 100.000 đồng (việc Phạm Văn H góp tiền mua Heroine cùng Tòng Văn P2, Tráng A biết và nhìn thấy). Tòng Văn P2 cầm tổng số tiền 300.000 đồng đưa cho Tráng A P3. Nhận tiền từ Tòng Văn P2, Tráng A lấy trong túi áo ra bán cho Tòng Văn P2 và Phạm Văn H 01 gói Heroine được gói bằng mảnh ni lon màu hồng. Mua được H1, Tòng Văn P2 và Phạm Văn H mang ra bụi cây ven đường thuộc bản N, xã P, huyện T chia nhau mỗi người một nửa sử dụng bằng hình thức hít thì bị Công an huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ của Tòng Văn P2 và Phạm Văn H 02 bật lửa ga màu đỏ và 02 mảnh giấy bạc.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tráng A, Cơ quan điều tra thu giữ trong túi áo khoác bên trái Tráng A P3 đang mặc trên người 03 gói Heroine (đều được gói bằng mảnh ni lon màu hồng, gói trong mảnh nilon màu trắng) và số tiền 300.000 đồng do Tráng A P3 bán Heroine cho Tòng Văn P2 và Phạm Văn H mà có.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 146 ngày 29/12/2023 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và Kết luận giám định số 110 ngày 01/01/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: 03 mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Tráng A có tổng khối lượng 0,98 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Tại bản Kết luận giám định số 111 ngày 05/01/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 300.000 đồng thu giữ của Tráng A P3 là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,98 gam Heroine (Cơ quan điều tra đã gửi giám định 0,27 gam, còn lại 0,71 gam Heroine); 03 mảnh ni lon màu hồng; 01 mảnh ni lon màu trắng; 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 02 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; số tiền 300.000 đồng. Các vật chứng còn lại hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Tráng A P3 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tráng A P3 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,71 gam Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định; 03 mảnh ni lon màu hồng; 01 mảnh ni lon màu trắng; 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 02 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng thu của bị cáo Tráng A P3.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Tráng A P3 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Tráng A P3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 06 giờ, ngày 29/12/2023, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Tráng A đã mua trái phép 04 gói Heroine của một người không rõ lai lịch với giá 600.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Tráng A cùng một lúc bán trái phép 01 gói Heroine cho hai người là Tòng Văn P2 và Phạm Văn H lấy số tiền 300.000 đồng (Trong đó: Tòng Văn P2 góp 200.000 đồng, Phạm Văn H góp 100.000 đồng, việc Tòng Văn P2 và Phạm Văn H góp tiền mua Heroine Tráng A chứng kiến). Mua được H1, Tòng Văn P2 và Phạm Văn H mang đi chia nhau sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tráng A, Cơ quan điều tra thu giữ trong túi áo khoác bên trái Tráng A P3 đang mặc trên người 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,98 gam và số tiền 300.000 đồng do Tráng A P3 bán Heroine cho Tòng Văn P2 và Phạm Văn H mà có.

Bị cáo Tráng A P3 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với mục đích thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo đã có hành vi mua ma tuý về để bán kiếm lời. Trong ngày 29/12/2023, bị cáo đã cùng một lúc bán ma tuý cho hai người là Tòng Văn P2 và Phạm Văn H. Hành vi nêu trên của bị cáo T A P3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Tráng A P3 sinh sống tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo không được đi học, không biết chữ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có lối sống buông thả, lang thang, nghiện chất ma tuý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp nông dân, thu nhập không ổn định, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,98 gam Heroine thu giữ của Tráng A, trong đó Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,27 gam không hoàn lại mẫu vật nên không phải xử lý, còn lại 0,71 gam Heroine là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ; Đối với 03 mảnh ni lon màu hồng, 01 mảnh ni lon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc đã than hóa, 02 bật lửa ga màu đỏ, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với số tiền 300.000 đồng thu của bị cáo Tráng A P3 là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tráng A P3 bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Tráng A P3 khai mua của một người không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tòng Văn P2, Phạm Văn H, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Tráng A P3 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tráng A P3 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2023.
  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Bì niêm phong bên trong đựng 0,71 gam Heroine; 01 Phong bì bên trong đựng 03 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 Phong bì bên trong đựng 02 mảnh giấy bạc màu vàng có vết than hoá màu đen, 02 bật lửa ga màu đỏ. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thu của bị cáo Tráng A P3.

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Tráng A P3 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tráng A P - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger