Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/DS-ST
Ngày: 24/11/2025
V/v tranh chấp: "Hợp đồng tín
dụng và xử lý tài sản thế chấp"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

- THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Phúc và bà Trần Thị Thanh Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 52/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QÐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q

Địa chỉ: Tầng A và tầng B tòa nhà S, số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường S, thành phố Hồ Chí Minh)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Đình H - Chức vụ: Giám đốc Thu hồi nợ Trực tiếp và xử lý nợ Vùng theo Giấy ủy quyền số: 064585.24 ngày 03/04/2024;

Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Trần Thùy P, bà Trần Thị Trà M, bà Đỗ Thị Thanh T và bà Lê Thị C – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. (Văn bản ủy quyền ngày 09/5/2024).

Tại phiên tòa có mặt bà M

Địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là phường K, thành phố Hà Nội)

- Bị đơn: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1982. Vắng mặt

Ông Đào Văn K, sinh năm 1980. Vắng mặt

1

Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 09 tháng 5 năm 2024, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Trà M trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (V1) đã ký với bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K theo các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số 1313531.21 ngày 15/12/2021 với nội dung: VIB cho bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K vay số tiền 600.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Vay sửa chữa nhà tại thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Thời hạn vay: 180 tháng từ ngày 16/12/2021 đến ngày 15/12/2036. Lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,1%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3,3%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng, hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc: hàng tháng vào ngày 25, mỗi kỳ trả 3.334.000 đồng, ngày đầu tiên: 25/01/2021, ngày cuối cùng trả số tiền còn lại. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 25, ngày đầu tiên: 25/01/2021. Ngày trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Ngày 15/12/2021, V1 đã giải ngân cho bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1313531(1).21 số tiền 600.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.

Hợp đồng tín dụng số 1844036.23 ngày 10/07/2023 với nội dung: VIB cho bà Vũ Thị L vay số tiền 92.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Vay tiêu dùng mua sắm thiết bị gia đình; Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 10/07/2028. Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12%/năm, lãi suất này được cố định trong suốt thời hạn vay. Hoàn trả khoản vay gốc: thời gian ân hạn: 12 tháng đầu không trả gốc, sau thời gian ân hạn: hàng tháng, vào ngày 30 mỗi tháng trả 1.916.000 đồng. Ngày trả nợ gốc đầu tiên là 30/07/2024, số còn lại trả vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi: hàng tháng, thời gian ân hạn 12 tháng đầu không trả lãi, sau thời gian ân hạn: hàng tháng, vào ngày 30 hàng tháng theo dư nợ thực tế. Số tiền lãi ân hạn 12 tháng sẽ được hoàn trả cùng ngày trả lãi đầu tiên là ngày 30/07/2024. Ngày trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Ngày 10/07/2023, V1 đã giải ngân cho bà Vũ Thị L theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1844036(1).23 số tiền 92.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.

2

Hợp đồng tín dụng số 4818949.23 ngày 31/10/2023 với nội dung: VIB cho bà Vũ Thị L, ông Đào Văn K vay số tiền 32.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Vay tiêu dùng; Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 31/10/2028. Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12%/năm, lãi suất này được cố định trong suốt thời hạn vay. Hoàn trả khoản vay gốc: thời gian ân hạn: 12 tháng đầu không trả gốc, sau thời gian ân hạn: hàng tháng, vào ngày 25 mỗi tháng trả 666.666 đồng. Ngày trả nợ gốc đầu tiên là 25/11/2024, số còn lại trả vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi: hàng tháng, thời gian ân hạn 12 tháng đầu không trả lãi, sau thời gian ân hạn: hàng tháng, vào ngày 25 hàng tháng theo dư nợ thực tế. Số tiền lãi ân hạn 12 tháng sẽ được hoàn trả cùng ngày trả lãi đầu tiền là ngày 25/11/2024. Ngày trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Ngày 31/10/2023, V1 đã giải ngân cho bà Vũ Thị L theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4818949(1).23 số tiền 32.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD đã ký. Vì vậy, V1 đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 26/02/2024.

Tính đến ngày 24/11/2025, bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K đã trả cho V1 số tiền tổng cộng là 216.979.068đồng, trong đó: Nợ gốc là 80.016.000đồng, nợ lãi trong hạn 135.259.792đồng, nợ lãi quá hạn: 1.703.279đồng và còn nợ VIB số tiền tổng cộng là: 917.889.829 đồng trong đó nợ gốc là 643.984.000 đồng, nợ lãi trong hạn 56.427.389 đồng, nợ lãi quá hạn: 217.478.440 đồng.

Tài sản đảm bảo cho các khoản vay là: Quyền sử dụng 142,2m² đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1008, tờ bản đồ số: 36 địa chỉ: thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) (nay là thôn Y, xã Y, tỉnh Phú Thọ) theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 307528, số vào số cấp GCN: CS 00573 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2017 đứng tên ông Đào Văn K.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 24/11/2025 là: 917.889.829 đồng trong đó nợ gốc là 643.984.000 đồng, nợ lãi trong hạn 56.427.389 đồng, nợ lãi quá hạn: 208.472.131 đồng, phạt chậm trả: 9.006.309 đồng, cụ thể:

HĐTDNợ gốcNợ lãi trong hạnNợ lãi quá hạnLãi chậm trảTổng
1313531.21 ngày 15/12/2021519.984.00044.336.649175.328.4607.210.917746.860.026
1844036.23 ngày 10/07/202392.000.0009.860.38424.590.4661.464.199127.915.049
4818949.23 ngày 31/10/202332.000.0002.230.3568.553.205331.19343.114.754
Tổng643.984.00056.427.389208.472.1319.006.309917.889.829

Đề nghị tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 25/11/2025 cho đến khi bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng số 1313531.21 ngày 15/12/2021; Hợp đồng tín dụng số 1844036.23 ngày 10/07/2023; Hợp đồng tín dụng số 4818949.23 ngày 31/10/2023.

Trong trường hợp bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1 thì Ngân hàng TMCP Q có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: “Quyền sử dụng 142,2m² đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1008, tờ bản đồ số: 36 địa chỉ: thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 307528, số vào số cấp GCN: CS 00573 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2017 đứng tên ông Đào Văn K”. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 6174065.21, ngày 15/12/2021, số công chứng: 5735/2021/HĐTC quyền số 13 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng ngày 15/12/2021; Văn bản cam kết và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V1. Đối với phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận đã cấp cho ông K, Ngân hàng không có đề nghị gì.

Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K đối với các tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V1.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V1. Trường hợp nếu số tiền thu

4

được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V1.

Bị đơn ông Đào Văn K đã được Tòa án hướng dẫn viết bản tự khai nhưng không trình bày, tuy nhiên, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, ông K xác nhận quá trình vay vốn và thế chấp tài sản tại ngân hàng V1 như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Do vợ chồng ông gặp khó khăn nên không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, ông đề nghị Ngân hàng cho gia hạn để có thời gian thu xếp trả nợ.

Bị đơn bà Vũ Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ phát biểu quan điểm như sau:

  • - Có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1 về nghĩa vụ trả nợ tiền vay.
  • - Về xử lý tài sản bảo đảm: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án thực hiện ngày 20/9/2024 thể hiện: Ông K, bà L đã xây dựng nhà và các công trình khác lấn sang thửa đất 1007 và đường ngõ xóm đều do UBND xã Y quản lý do vậy cần bổ sung UBND xã Y vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đồng thời lấy lời khai của bị đơn để làm rõ quan điểm về xử lý tài sản bảo đảm mới đủ căn cứ để giải quyết vụ án đúng theo quy định. Đề nghị tạm ngừng phiên tòa để đưa UBND xã Yên Lạc vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và lấy lời khai của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Đào Văn K, bà Vũ Thị L, có hộ khẩu thường trú tại thôn Y, xã B, huyện Y (nay là thôn Y, xã Y, tỉnh Phú Thọ) phải trả tiền vay từ Hợp đồng tín dụng, vì vậy đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, ông Đào Văn K và bà Vũ Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông K, bà L theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5

[3] Về áp dụng pháp luật giải quyết trong vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của Ngân hàng từ năm 2021, nội dung và hình thức của giao dịch dân sự trên phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015; pháp luật được áp dụng giải quyết trong vụ án này là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

[4] Về nội dung vụ án:

[4.1] Về hiệu lực của Hợp đồng:

Ông Đào Văn K, bà Vũ Thị L và Ngân hàng Q đã ký kết các Hợp đồng tín dụng số 1313531.21 ngày 15/12/2021, số 1844036.23 ngày 10/07/2023, 4818949.23 ngày 31/10/2023 và Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 6174065.21, ngày 15/12/2021, số công chứng: 5735/2021/HĐTC quyền số 13 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng ngày 15/12/2021 được giao kết đúng quy định của pháp luật. Ngân hàng đã giải ngân và ông K, bà L đã nhận tiền. Quá trình vay, ông bà đã không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận đã ký kết trong các hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng khởi kiện.

Quá trình giải quyết vụ án, ông K, bà L không có lời khai nhưng ông K đã xác nhận quan hệ vay vốn tại ngân hàng nên đây là sự kiện không phải chứng minh.

Do đó các hợp đồng trên đều hợp pháp và có hiệu lực thi hành.

[4.2] Đối với yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi (bao gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn) và nợ lãi chậm trả:

Căn cứ thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ về thời hạn trả nợ, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi chậm trả, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thỏa thuận lãi suất của các bên là phù hợp với quy định tại các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1, khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng...; khoản 2, 3, 4 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, cần chấp nhận.

[4.3] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông K đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 6174065.21, ngày 15/12/2021, số công chứng: 5735/2021/HĐTC quyền số 13 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng ngày 15/12/2021; Văn bản cam kết và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư

6

xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V1.

Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Vũ Thị L và ông Đào Văn K đối với các tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho VIB.

Tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng 142,2m² đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1008, tờ bản đồ số: 36 địa chỉ: thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 307528, số vào sổ cấp GCN: CS 00573 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2017 đứng tên ông Đào Văn K.

Theo đó ông K đã thế chấp tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình để đảm bảo cho khoản vay trên. Do vậy nếu ông K, bà L không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng ông K, bà L.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án và chính quyền địa phương tiến hành đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất trên thấy rằng hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông K, bà L không đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng.

(Có sơ đồ kèm theo)

UBND xã B (cũ) và UBND xã Y, tỉnh Phú Thọ cung cấp nội dung như sau:

Phần diện tích tăng thêm gồm 02 phần: phần thứ nhất giới hạn bởi các điểm 1,2,A,B,7,8,1 có diện tích 120,3m² thuộc thửa đất số 1007 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa số 1007 vẫn đang thuộc quản lí của UBND xã); phần thứ hai giới hạn bởi các điểm 3,4,5,6,F,E,D,C,3 có diện tích 18,5m² là lối đi chung và là lối đi vào thửa đất số 1008 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K.

Vì vậy Hội đồng xét xử công nhận đối với tài sản thế chấp là diện tích 142,2m² đất và tài sản khác gắn liền với diện tích đất tại thửa đất số: 1008, tờ bản đồ số: 36 địa chỉ: thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn Y, xã Y, tỉnh Phú Thọ) theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 307528, số vào số cấp GCN: CS 00573 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2017 đứng tên ông Đào Văn K. Yêu cầu về xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

7

[5] Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông K, bà L có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

[6] Về chi phí tố tụng: Toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ hết số tiền là 5.000.000 đồng. Ngân hàng đã nộp số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định. Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng đề nghị bị đơn ông K, bà L có trách nhiệm thanh toán lại số tiền Ngân hàng đã nộp tạm ứng. Do đó, cần buộc ông K, bà L phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền này.

[7] Về án phí sơ thẩm: Do các bên không thỏa thuận được và yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền 917.889.829 đồng = 36.000.000đồng + 3% x 117.889.829đồng, số tiền đã làm tròn là 39.536.500đồng

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[8]. Về vấn đề khác: Qua xem xét thẩm định tại chỗ thấy rằng hộ ông Đào Văn K đang sử dụng, xây nhà kiên cố ngoài phần diện tích đất được cấp giấy chứng nhận là hành vi vi phạm Luật đất đai, nên kiến nghị UBND xã Y, tỉnh Phú Thọ xem xét, xử lý vi phạm về đất đai theo quy định của pháp luật.

[9]. Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để đưa UBND xã Yên Lạc vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và lấy lời khai của bị đơn. Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp; quá trình giải quyết, nguyên đơn chỉ yêu cầu xử lý đối với phần diện tích đã được cấp giấy chứng nhận theo thỏa thuận giữa các bên; mặc dù qua xem xét, thẩm định tại chỗ thấy rằng việc sử dụng đất của ông K, bà L không đúng theo giấy chứng nhận nhưng không có đương sự nào có ý kiến đối với phần diện tích tăng thêm. Do đó, hội đồng xét xử không đưa UBND xã Y vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà kiến nghị UBND xã Y xử lý vi phạm về đất đai theo quy định.

Đối với yêu cầu lấy lời khai của ông Đào Văn K, Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình giải quyết vụ án, tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với ông K, bà L nhưng ông, bà đều không đến làm việc. Ông K chỉ đến Tòa 1 lần và xác nhận nội dung như phía Ngân hàng trình bày và không có ý kiến gì khác. Như vậy, ông, bà đã từ bỏ quyền chứng minh của mình.

Do đó, đề nghị tạm ngừng phiên tòa của Kiểm sát viên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

8

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 90, 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều 147, 157, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 292, 298, 299, 301, 305, 317, 318, 319, 320, 321, 323, 351, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với ông Đào Văn K, bà Vũ Thị L.

Buộc ông Đào Văn K, bà Vũ Thị L phải trả cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền tính đến ngày 24/11/2025 là 917.889.829 đồng trong đó nợ gốc là 643.984.000 đồng, nợ lãi trong hạn 56.427.389 đồng, nợ lãi quá hạn: 208.472.131 đồng, phạt chậm trả: 9.006.309 đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/11/2025), ông Đào Văn K, bà Vũ Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc phải trả, theo các mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết, cụ thể: Hợp đồng tín dụng số 1313531.21 ngày 15/12/2021, số 1844036.23 ngày 10/07/2023, 4818949.23 ngày 31/10/2023.

Trường hợp ông Đào Văn K, bà Vũ Thị L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 6174065.21, ngày 15/12/2021, số công chứng: 5735/2021/HĐTC quyền số 13 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Vĩnh Phúc công chứng ngày 15/12/2021 để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng 142,2m² đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 1008, tờ bản đồ số: 36 địa chỉ: thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 307528, số vào số cấp GCN: CS 00573 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/10/2017 đứng tên ông Đào Văn K. Diện tích 142,2m² được giới hạn theo các điểm A, B, C, D, E, F, G, H, A.

(Có sơ đồ chi tiết kèm theo bản án).

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì ông Đào Văn K, bà Vũ Thị L có nghĩa vụ

9

tiếp tục thanh toán khoản nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

2. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Đào Văn K và bà Vũ Thị L phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP Q đã nộp 5.000.000 đồng tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, do đó buộc ông Đào Văn K và bà Vũ Thị L phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 5.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Đào Văn K và bà Vũ Thị L phải chịu 39.536.500 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm đồng) (đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 15.895.000 đồng (Mười lăm triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số: 0003320 ngày 13/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Phú Thọ).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 10- Phú Thọ;
  • - Phòng THADS khu vực 10 – Phú Thọ;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Duy Hưng

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 24/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ về hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp

  • Số bản án: 72/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng khởi kiện K do vi phạm hợp đồng tín dụng, đề nghị xử lý tài sản thế chấp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger