Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 72/2025/DS-PT

Ngày: 03-06-2025

V/v " tranh chấp hợp đồng

tín dụng và Hợp đồng thế chấp”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu và ông Phạm Anh Tuyết.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 140/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp"

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2024/DS-ST, ngày 27-09-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 17/2024/QĐXXPT- DS ngày 06 tháng 02 năm 2024; các Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

    Trụ sở chính: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người được ủy quyền: Bà Trịnh Thị Thanh H - Giám đốc trung tâm thu hồi nợ HKCN- khối KHCN. (Văn bản ủy quyền số 26B/2022/UQ-CTHĐQT ngày 01-4-2022). Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Lê H1 - Trưởng bộ phận xử lý nợ; ông Nguyễn Thanh T và ông Trần Quang T1 - Chuyên viên xử lý nợ. (Văn bản ủy quyền số 261/2022/UQ-VPB ngày 22-11-2022)

  2. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn M1. Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà P, số E Đường D, phường L, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền T2 - Giám đốc

    (Theo Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB ngày 30-6-2023)

    Người được ủy quyền: Ông Đỗ Thành T3 - Phó giám đốc và ông Nguyễn Hồng B - Phó giám đốc. Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn T4 - Chuyên viên xử lý nợ. (Văn bản ủy quyền số 41/2023/GUQ-GLXDT-VPN ngày 6-8-2023)

  3. Người kế thừa quyền và nghĩa của của Công ty mua bán nợ Galaxy: Công ty Cổ phần M2. Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố K, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T5 – Tổng giám đốc

    (Theo Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/Galaxy-Jupiter ngày 12-7-2024)

    Người được uỷ quyền: Ông Trần Văn T6; ông Nguyễn Văn T4, ông Nguyễn Như G - Chuyên viên xử lý nợ. (Giấy ủy quyền số 6909/2024/UQ-XLN-JUPITER ngày 15-7-2024)

  4. Bị đơn:

    4.1. Bà Trần Thị D1, sinh năm 1970.

    4.2. Ông Phạm Khắc H2, sinh năm 1970. (đã chết)

    Địa chỉ: Thôn B, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

    Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H2:

    • + Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

    • + Chị Phạm Thị T7, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số A, ngõ D, Điện Biên, T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

    • + Cháu Phạm Việt T8, sinh năm 2016 và bà Trần Thị D1, sinh năm 1970 (bà D1 đồng thời là người đại diện theo pháp luật của cháu T8).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mạc Thị Y, sinh năm 1987 và anh Nguyễn Văn T9, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

  6. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà D1: Bà Đỗ Phương H4 và bà Phạm Thị H5 – Luật sư thuộc Công ty L, Đoàn luật sư thành phố H.

  7. Người kháng cáo: Bà Trần Thị D1 - là bị đơn.

  8. Bản án không bị kháng nghị.

Tại phiên tòa có mặt: Bà D1, chị T7, bà H4, bà H5, ông T6.

Vắng mặt: Các đương sự còn lại.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Dân sự sơ thẩm số: 39/2024/DS-ST, ngày 27-09-2024 của

Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng V) trình bày: Ngày 20-04-2021, Ngân hàng ký hợp đồng cho vay hạn mức và Khế ước nhận nợ với bà Trần Thị D1 và ông Phạm Khắc H2, số tiền cho vay gốc là 1.689.000.000 đồng, mục đích vay để hoạt động kinh doanh buôn bán tạp hóa. Thời hạn cho vay là 12 tháng tính từ ngày tiếp theo ngày bên ngân hàng giải ngân số tiền vay. Lãi suất cho vay và kỳ hạn điều chỉnh: lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 8,49%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 1tháng/1lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 23-10-2021. Mức lãi suất được điều chỉnh xác định bằng mức lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.

Để bảo đảm khoản vay trên, bà D1, ông H2 đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, theo hợp đồng thế chấp ngày 20-4-2021 được công chứng tại Văn phòng C.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà D1 và ông H2 đã trả được 61.782.231 đồng tiền gốc và 160.462.129 đồng tiền lãi. Bà D1, ông H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đối với Ngân hàng từ ngày 23-4-2022. Nay, Ngân hàng yêu cầu bà D1, ông H2 phải thanh toán toàn bộ số nợ tính đến ngày 17-02-2023: trong đó tiền gốc: 1.627.217.769 đồng; lãi quá hạn: 222.490.548 đồng; phạt chậm chậm trả: 10.215.797 đồng. Bà D1, ông H2 phải tiếp tục trả lãi suất theo thỏa thuận kể từ ngày 18-02-2023 cho đến khi thanh toán xong hợp đồng.

Trường hợp bà D1, ông H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để đảm bảo thu hồi nợ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng thương mại cổ phần V đã bán khoản nợ của ông H2, bà D1 cho Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 (viết tắt là Công ty M1) theo Hợp đồng số 3-30/6/2023/GLX-VPB. Do vậy Công ty M1 kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh. Nghĩa vụ trả nợ của bà Trần Thị D1 và ông Phạm Khắc H2 được chuyển về cho Công ty M1.

Bị đơn bà Trần Thị D1 và ông Phạm Khắc H2 trình bày:

Ông bà có vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần V để làm ăn kinh tế từ tháng 4-2021. Hai bên ký hợp đồng vay số tiền tiền nợ gốc là 1.689.000.000đồng. Thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất theo thỏa thuận 8,49%/năm, lãi suất được điều chỉnh định kỳ theo năm. Để đảm bảo khoản vay trên, ông bà đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng của ông bà. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông bà đã trả được tiền lãi đến ngày 22-4-2022. Sau đó, dừng không trả tiền lãi và đến hạn cũng không trả được tiền gốc. Nay, Ngân hàng xác định ông bà phải trả số tiền nợ gốc là 1.627.217.769 đồng là đúng. Ông bà đồng ý trả số nợ này nhưng xin được trả dần và giảm bớt tiền lãi do ông bà làm ăn khó khăn, không có để trả ngay được. Trường hợp không có khả năng để trả tiền lãi thì đồng ý cho Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp để thanh toán nợ. Sau đó, ông bà thay đổi quan điểm, chỉ đồng ý trả tiền gốc và xin miễn toàn bộ lãi. Nếu Ngân hàng không đồng ý thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông H2 bà D1 xác định đã được Ngân hàng thông báo về khoản nợ quá hạn, lãi quá hạn và mức lãi. Tuy nhiên, do không có điều kiện để thanh toán nên vẫn còn nợ Ngân hàng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Mạc Thị Y và anh Nguyễn Văn T9 trình bày:

Anh chị kết hôn vào năm 2009. Bố mẹ anh T9 là ông Nguyễn Văn T10 và bà Trần Thị M có cho vợ chồng anh chị một thửa đất diện tích 102m², thửa số 109, tờ bản đồ số 78 địa chỉ tại khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Anh chị đã xây dựng 1 nhà ở kiên cố trên đất vào năm 2020. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên ông T10, chưa sang tên cho vợ chồng anh chị. Năm 2021, em trai anh là Nguyễn Văn T11, vợ là Phạm Thị T7 làm ăn kinh doanh, muốn sử dụng đất để vay vốn làm ăn. Thửa đất vẫn chưa sang tên cho vợ chồng anh chị nên anh T11 hỏi ông T10, bà M để chuyển quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh chị để vay vốn giúp nhưng thời điểm đó anh chị đang làm Căn cước công dân nên không làm thủ tục chuyển nhượng được. Anh chị có làm vi bằng cam kết với ông H2, bà D1 là tài sản trên thửa đất số 109, tờ bản đồ số 78, là của vợ chồng anh chị. Năm 2021, ông T10, bà M làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất nói trên cho ông H2, bà D1 anh chị có biết. Anh chị cũng biết là ông H2, bà D1 làm thủ tục để vay tiền hộ anh T11, còn anh chị vẫn là người quản lý sử dụng tài sản từ đó đến nay. Nay ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất cùng tài sản trên đất, anh chị không đồng ý vì nhà trên đất vẫn là của anh chị. Ai vay là người có trách nhiệm trả.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn T10, bà Trần Thị M trình bày:

Ông bà là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T9, anh Nguyễn Văn T11. Ông bà có quyền sử dụng đất diện tích 102m², thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Sau khi anh T9 chị Y kết hôn vào khoảng năm 2009, ông bà đã cho anh chị sử dụng thửa đất trên. Anh Thư chị Y đã xây dựng nhà ở năm 2020 nhưng ông bà vẫn chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho anh chị. Năm 2021, anh T11 cần vay vốn làm ăn kinh doanh nên muốn mượn quyền sử dụng đất của ông bà để vay vốn. Anh T5 đã trao đổi với ông bà làm thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất nói trên cho bà D1, ông H2 (là bố mẹ vợ anh T5) để đứng tên vay tiền hộ. Do thời điểm đó anh T9 chị Y đang làm thủ tục cấp Căn cước công dân chưa xong nên không làm thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được. Ông bà xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18-3-2021 giữa ông bà và ông H2, bà D1 tại phòng C1 đúng là chữ ký của ông bà. Hợp đồng ghi giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 150.000.000đồng nhưng thực tế không có việc giao tiền, giao nhà. Trên đất lúc này đang có tài sản là nhà ở của anh T9, chị Y. Khi ông bà làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, anh T9, chị Y có biết và đồng ý vì xác định quyền sử dụng đất vẫn là của ông bà. Đối với tài sản trên đất là của anh T9 chị Y ông bà được biết anh chị có lập vi bằng với bà D1, ông H2. Hiện nay chị Y, anh T9 vẫn đang quản lý sử dụng đất. Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền dụng diện tích 102m² thửa số 109 tờ bản đồ số 78 cùng tài sản trên đất quan điểm của ông bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị Phạm Thị T7 trình bày:

Chị là con ruột của bà Trần Thị D1 và ông Phạm Khắc H2. Ngày 18-3-2021, chị có làm Biên bản thỏa thuận với ông H2, bà D1 mục đích để khẳng định tài sản trên thửa đất số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại khu dân cư T, phường S, thành phố C là của anh Nguyễn Văn T9, chị Mạc Thị Y. Do vợ chồng anh chị cần vay vốn làm ăn kinh doanh mà thửa đất vẫn mang tên ông Nguyễn Văn T10. Anh Thư, chị Y chưa làm được căn cước công dân nên không thể làm thủ tục sang tên đất cho anh T9, chị Y được. Do vậy, anh chị phải nhờ bà D1, ông H2 đứng tên quyền sử dụng đất để vay tiền ngân hàng. Bản chất thửa đất này vẫn là của ông T10, tài sản trên đất là của anh T9, chị Y.

Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí xem xét thẩm định tài sản là 5.000.000 đồng. Ngân hàng yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 01-02-2024 Hội đồng xét xử đã ra quyết định tạm ngừng phiên toà để chuyển cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C xem xét có hay không hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã lấy lời khai của các đương sự thể hiện như sau:

  • Bà Trần Thị D1 trình bày: Khoảng tháng 4-2021, ông H2 bà D1 thế chấp tài sản để vay vốn của ngân hàng TMCP V. Đến nay, vợ chồng bà và ngân hàng chưa thống nhất được về việc tiếp tục vay vốn và lãi suất nên ngân hàng khởi kiện ông bà. Tài sản ông bà đã thế chấp để vay vốn là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: Phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương theo hợp đồng thế chấp ngày 20-4-2021 được công chứng tại Văn phòng C. Quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên là của vợ chồng ông bà, còn quyền sở hữu nhà ở trên thửa đất trên là của vợ chồng chị Y và anh T9 nên ông bà có lập vi bằng tại văn phòng T13 ngày 18-3-2021 để xác định nội dung này. Việc ông bà thế chấp tài sản để vay vốn làm ăn, vợ chồng chị Yến anh T12 có biết và đồng ý.

  • Chị Phạm Thị T7 trình bày: Ngày 18-3-2021, chị cùng bà D1 và ông H2 tiến hành lập vi bằng tại Văn phòng T13, địa chỉ: KĐT V, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, để thỏa thuận liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là thửa đất số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: Phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương). Do vợ chồng chị muốn vay vốn làm ăn nên đã nói chuyện với bố mẹ chồng chị và anh T12, chị Y để mượn quyền sử dụng thửa đất, thế chấp cho ngân hàng để vay vốn làm ăn nhưng anh T12, chị Y không đủ điều kiện để sang nhượng quyền sử dụng đất và đã nhờ bố mẹ ruột chị đứng tên để vay vốn cho vợ chồng chị. Đầu năm 2021, vợ chồng chị và bố mẹ chồng chị là ông Nguyễn Văn T10 và bà Trần Thị M cùng mọi người trong gia đình đồng ý cho vợ chồng chị mượn quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên bố mẹ ruột chị là bà D1 và ông H2 để thuận tiện cho việc vay vốn làm ăn. Khi vợ chồng chị làm thủ tục thì có người tư vấn bảo phải làm vi bằng và biên bản thỏa thuận. Nội dung trong thoả thuận thể hiện việc bố mẹ ruột chị đứng tên hộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: Phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nhưng sau đó gia đình chị có thỏa thuận lại với nhau là giao toàn quyền đứng tên quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 78 cho bà D1, ông H2. Anh Thư, chị Y cũng đã đồng ý điều này. Khi ông H2, bà D1 thế chấp đất và tài sản gắn liền với đất tại Ngân hàng TMCP V để vay vốn cho vợ chồng chị thì vợ chồng anh T12, chị Y có biết và đồng ý cho bố mẹ ruột chị toàn quyền quyết định việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên.

  • Anh Nguyễn Văn T9 trình bày: Năm 2020, anh chị xây dựng nhà ở trên diện tích 102m², thửa đất số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: KDC T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của ông T10 và bà M. Đầu năm 2021, ông T10 và bà M làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với thửa đất trên cho ông H2, bà D1 để thế chấp ngân hàng vay vốn cho anh T5, chị T7. Vợ chồng anh biết và đồng ý cho ông T10, bà M chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền nêu trên cho vợ chồng ông H2, bà D1; Anh Thư chị Y biết, đồng ý và giao toàn quyền cho ông H2, bà D1 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất nêu trên cho ngân hàng để vay vốn cho anh T5.

Tại Công văn số 1021/CV-CATP ngày 12-9-2024 của Công an thành phố C xác định không có căn cứ xác định việc ông H2, bà D1 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ phía Ngân hàng. Vụ việc trên là quan hệ tranh chấp dân sự.

Ngày 12-7-2024 Công ty cổ phần M2 đã có công văn gửi Toà án nhân dân thành phố Chí Linh xác định khoản nợ của khách hàng Trần Thị D1 và ông Phạm Khắc H2 theo hợp đồng tín dụng đã đã ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần V; Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 chuyển giao cho Công ty cổ phần M2 theo hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER ngày 12-7-2024. Công ty cổ phần M2 đã kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Công ty T14 mua bán nợ Galaxy đối với khoản nợ trên.

Bản án Dân sự sơ thẩm số: 39/2024/DS-ST, ngày 27-09-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V - người kế thừa quyền và nghĩa vụ Công ty cổ phần M2. Buộc ông Phạm Khắc H2 và bà Trần Thị D1 phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V người kế thừa quyền và nghĩa vụ Công ty cổ phần M2 tính đến ngày 27-9-2024 tổng số tiền là 2.365.550.672đồng (hai tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó tiền nợ gốc là 1.627.217.769 đồng; tiền lãi quá hạn là 645.709.829 đồng; tiền lãi phạt 83.623.074 đồng. Kể từ ngày 28-9-2024, ông H2, bà D1 còn phải tiếp tục chịu lãi trên dư nợ gốc theo thỏa thuận của hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Xác định tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 102m², thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương cùng tài sản trên đất. Trường hợp ông Phạm Khắc H2, bà Trần Thị D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng thương mại cổ phần V người kế thừa quyền và nghĩa vụ là Công ty cổ phần M2 có quyền yêu cầu phát mại tài sản là quyền sử dụng diện tích 102m², thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương và tài sản trên đất. Trường hợp nếu tiền bán tài sản còn thừa thì phải trả lại bà D1, ông H2. Nếu trường hợp tiền bán còn thiếu thì bà D1, ông H2 phải trả tiếp phần còn thiếu đó.

Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bà D1 kháng cáo yêu cầu hủy bản án dân sự sơ thẩm vì chưa xem xét toàn bộ nội dung vụ án một cách khách quan, quyết định chưa phù hợp tình tiết của vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà D1 thay đổi nội dung kháng cáo: Bà D1 không tranh chấp về hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp tài sản mà ông H2, bà D1 đã ký kết với Ngân hàng V. Bà đã nhận đủ số tiền được ngân hàng cho vay. Xác định số tiền gốc còn nợ ngân hàng là 1.627.217.769đồng; Đồng ý trả số tiền gốc làm hai đợt như trình bày tại cấp sơ thẩm, xin không trả tiền lãi. Lý do: Bà vay tiền cho con là anh T5 kinh doanh. Tuy nhiên, do dịch bệnh, công việc làm ăn không thuận lợi, do sự kiện bất khả kháng nên khi đến hạn, anh T5 và bà đề nghị được vay lại khoản tiền trên thì ngân hàng không cho vay lại mà chuyển sang nợ quá hạn. Bà chưa bao giờ có ý kiến hoặc văn bản gửi cho ngân hàng trình bày về việc làm ăn thua lỗ do dịch bệnh covid19, thiên tai, sự kiện bất khả kháng khác. Mức lãi suất điều chỉnh hàng tháng cộng biên độ 3,5% và mức lãi quá hạn 150% lãi trong hạn là cao so với thực tế, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét không tính thời gian bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid 19 vào thời gian thực hiện Hợp đồng tín dụng và không tính tiền lãi thời gian đó cho bị đơn và yêu cầu Ngân hàng tái cơ cấu khoản vay, giãn nợ hoặc chia kỳ thanh toán phù hợp với khả năng tài chính của bà D1.

Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Trong thời hạn 12 tháng của hợp đồng, bà D1 ông H2 đã thanh toán đầy đủ tiền theo thỏa thuận tại hợp đồng. Khi hết hạn, bà D1 đề nghị được vay lại khoản tiền trên nhưng thấy tình hình tài chính và điệu kiện của bị đơn không đáp ứng các điều kiện cho vay nên ngân hàng không đồng ý mà yêu cầu tất toán khoản nợ. Bị đơn không có căn cứ chứng minh có khó khăn do dịch bệnh covid19, do thiên tai. Sau này, hai bên vẫn có thể đàm phán với nhau về các khoản tiền phải trả nếu bị đơn thiện chí thanh toán tiền gốc cho ngân hàng. Đề nghị Tòa án tuyên bị đơn phải thanh toán nợ cho công ty M2 vì chúng tôi đã mua trọn khoản nợ trên của Ngân hàng V.

Chị T7 thống nhất với trình bày của bà D1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà D1, sửa bản án sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Buộc bà D1 và những người được hưởng thừa kế của ông H2 phải thanh toán tiền nợ cho Công ty M2. Trường hợp không thanh toán được nợ thì công ty M2 được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng, kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị D1 trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 21/01/2025, ông Phạm Khắc H2 chết. Cấp phúc thẩm đã đưa những người thừa kế của ông H2 là chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị T7, cháu Phạm Việt T8 và bà Trần Thị D1 tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H2. Tại phiên tòa, vắng mặt chị H3 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt), vắng mặt cháu T8 nhưng đã có mặt người đại diện theo pháp luật là bà D1; vắng mặt các đương sự khác mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn:

[2.1] Ngày 20/4/2021, Ngân hàng V ký kết với bà Trần Thị D1, ông Phạm Khắc H2 Hợp đồng tín dụng số LN2104153622916 và Khế ước nhận nợ số 01. Theo đó: Ngân hàng V cho ông H2, bà D1 vay1.689.000.000đ để Bổ sung vốn lưu động kinh doanh buôn bán tạp hóa; Thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày giải ngân (bằng chuyển khoản); lãi suất trong hạn tại thời điểm vay là 8,49%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Bên vay phải trả nợ gốc một lần khi kết thúc thời hạn vay (12 tháng); Thời hạn cho vay theo khế ước nhận nợ tính từ ngày 23/4/2021-23/4/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 21/04/2022, ông H2, bà D1 đã thanh toán được số tiền gốc và tiền lãi là 222.244.360đồng. Như vậy, hợp đồng tín dụng đã được các bên thực hiện, không có tranh chấp nên phát sinh hiệu lực. Từ ngày 22/4/2022 đến nay, ông bà không thanh toán các khoản tiền gốc lãi cho ngân hàng như đã thỏa thuận tức là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã ký kết trong hợp đồng tín dụng nêu trên mà không có căn cứ chứng minh ông bà thuộc trường hợp không phải chịu trách nhiệm dân sự. Vì vậy, Ngân hàng V yêu cầu Tòa án buộc ông H2, bà D1 phải thanh toán cho Ngân hàng V thịnh vượng tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh. Ngân hàng V đã bán khoản nợ trên cho Công ty cổ phần M2. Nay, Công ty cổ phần M2 yêu cầu ông H2 bà D1 phải trả tiền gốc là 1.627.217.769 đồng; lãi quá hạn 645.709.829 đồng; lãi phạt 83.623.074 đồng, tổng là 2.365.550.672đồng tính đến ngày 27/9/2024 là có cơ sở. Kể từ ngày 28-9-2024 ông H2, bà D1 chưa thanh toán các khoản tiền trên thì ông bà còn phải tiếp tục chịu lãi trên dư nợ gốc theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.

[3.3] Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 20/4/2021, Ngân hàng V và bà Trần Thị D1, ông Phạm Khắc H2 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2104153622916. Theo hợp đồng, tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thế chấp là ông Phạm Khắc H2 và bà Trần Thị D1 theo Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 774723, Số vào sổ cấp GCN: CH13617 do UBND thành phố C, tỉnh Hải Dương cấp ngày 24/3/2021. Số thửa đất: 109; tờ bản đồ số 78, địa chỉ: Phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Bên thế chấp cam đoan tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của riêng bên thế chấp và được phép thế chấp theo quy định của pháp luật, không có bất kỳ tranh chấp nào. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C. Được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký QSDĐ thành phố Chí Linh đúng quy định nên là hợp đồng hợp pháp. Bà D1 đồng ý để cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không trả được khoản nợ trên. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Từ những phân tích trên, xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ đầy đủ và buộc ông H2, bà D1 thanh toán tiền nợ gốc, tiền nợ lãi quá hạn, tiền phạt và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng đã ký kết; trường hợp không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bà D1 kháng cáo nhưng không xuất trình được thêm chứng cứ mới có giá trị chứng minh nội dung kháng cáo của mình là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà D1.

[5] Ngày 21/01/2025, ông H2 chết. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H2 là bà D1, chị H3, chị T7, cháu T8 là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H2 trong vụ án này. Chị H3, chị T7 thống nhất với quan điểm của bà D1. Vì vậy, cần buộc những người được hưởng thừa kế của ông H2 có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm di sản do người chết để lại thanh toán cho Công ty cổ phần M2 số tiền mà ông H2 phải thanh toán cũng như xử lý tài sản thế chấp của ông H2 theo quy định của pháp luật. Do đó, cần sửa bản án dân sự sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[6] Về án phí: Bà D1 kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[7] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm, cấp phúc thẩm không xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật thương mại; Điều 91, 95 của Luật tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 188 Luật đất đai; các điều 116, 117, 119, 280, 282, 307; 317, 319, 320, 322, 325; 318, 401, 463, 466, 468; 500; 501; 502 Bộ luật dân sự; Luật thi hành án dân sự; Các Điều 74; 147; 148; 157; 296 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

  1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn là bà Trần Thị D1.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V - người kế thừa quyền và nghĩa vụ là Công ty cổ phần M2.

  3. Buộc bà Trần Thị D1 và những người hưởng thừa kế của ông Phạm Khắc H2 gồm bà Trần Thị D1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị T7, cháu Phạm Việt T8 có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, thanh toán cho Công ty cổ phần M2 tổng số tiền là 2.365.550.672đồng (hai tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó: tiền nợ gốc là 1.627.217.769đồng; tiền lãi quá hạn là 645.709.829đồng; tiền lãi phạt 83.623.074đồng, tính đến ngày 27-9-2024. Kể từ ngày 28-9-2024, bà Trần Thị D1 và những người hưởng thừa kế của ông Phạm Khắc H2 gồm bà Trần Thị D1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị T7, cháu Phạm Việt T8 có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, tiếp tục chịu tiền lãi trên dư nợ gốc theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Công ty cổ phần M2.

  4. Về xử lý tài sản thế chấp:

    1. Xác định tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích đất 102m², thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương cùng toàn bộ tài sản trên đất.

    2. Trường hợp bà Trần Thị D1 và những người hưởng thừa kế của ông Phạm Khắc H2 gồm bà Trần Thị D1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị T7, cháu Phạm Việt T8 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì Công ty cổ phần M2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản là quyền sử dụng diện tích đất 102m², thửa số 109, tờ bản đồ số 78, địa chỉ tại khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương cùng toàn bộ tài sản trên đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 774723, Số vào sổ cấp GCN: CH13617 do UBND thành phố C, tỉnh Hải Dương cấp ngày 24/3/2021, tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là ông Phạm Khắc H2 và bà Trần Thị D1, để thanh toán khoản nợ cho Công ty cổ phần M2.

    3. Trường hợp nếu tiền bán tài sản đối trừ các khoản phải thi hành án còn thừa thì phải trả lại bà Trần Thị D1 và những người hưởng thừa kế của ông Phạm Khắc H2 gồm bà Trần Thị D1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị T7, cháu Phạm Việt T8; Nếu còn thiếu thì bà Trần Thị D1 và những người hưởng thừa kế của ông Phạm Khắc H2 gồm bà Trần Thị D1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị T7, cháu Phạm Việt T8 phải trả tiếp phần còn thiếu đó trong phạm vi di sản do người chết để lại.

    4. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị D1 phải trả cho Công ty Cổ phần M2 5.000.000đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tài sản.

  5. Về án phí: Bà Trần Thị D1 phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004276 ngày 08/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh. Bà D1 đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.

    Bà Trần Thị D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 79.311.013đồng (bảy mươi chín triệu ba trăm mười một nghìn không trăm mười ba đồng). H6 trại lại cho Công ty cổ phần M2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.642.000 (ba mươi hai triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003687 ngày 17-02-2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh (do Nguyễn Thanh T nộp thay).

  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - TAND TP Chí Linh;
  • - Chi cục THA dân sự TP Chí Linh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/DS-PT ngày 03/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp

  • Số bản án: 72/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng - Trần Thị D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger