|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 72/2025/HS-ST Ngày: 08-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Quang Chung
Bà Đặng Thị Châu Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Quang V, sinh ngày 02-02-1994 tại huyện T, tỉnh Nam Định; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng thường trú và nơi cư trú: thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C và bà Phạm Thị H; có vợ là Ninh Thị Kim C1 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-12-2024, đến ngày 30-12-2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam. (Đã chết).
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
1. Anh Trần Văn T, sinh năm 1985 (là chồng bị hại); nơi cư trú: thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam.
2. Bà Trần Thị C2, sinh năm 1940 (là mẹ đẻ bị hại); nơi cư trú: thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Trần Thị S, sinh ngày 18-5-2008.
2. Cháu Trần Thị H2, sinh ngày 14-6-2010.
3. Cháu Trần Hương L, sinh ngày 16-10-2015.
Cùng cư trú tại: thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Thị S, Trần Thị H2, Trần Hương L là anh Trần Văn T, sinh năm 1985 (là bố đẻ); nơi cư trú: thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Trần Văn T và bà Trần Thị C2 là ông Trần Xuân Q, sinh năm 1960; nơi cư trú: thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam. (ông Q vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 21-12-2024, Đỗ Quang V (có giấy phép lái xe theo quy định) lái xe thuê cho Công ty trách nhiệm hữu hạn V1; địa chỉ: số E N, phường N, thành phố N điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 89C-005.29 đi trên đường liên xã T hướng từ cầu Đ, xã M, thành phố N đến Quốc lộ B. Viện điều khiển xe ô tô đi tại chiều đường bên phải, cách mép đường khoảng 1,5m với tốc độ khoảng 40km/h. Khi đến khu vực giao nhau giữa đường trục liên xã T và đường trục xã M (ngã tư cầu K), Viện chỉ quan sát phía trước, bên phải mà không chú ý quan sát các vị trị khác trong khu vực đường giao nhau. Viện giữ nguyên tốc độ đi vào khu vực đường giao nhau thì phát hiện chị Lê Thị H1, sinh năm 1982, trú tại thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Boss, biển kiểm soát 18S9-3092 đã đi vào khu vực đường giao nhau được khoảng 2m hướng từ trái sang phải theo hướng Viện đi với tốc độ khoảng 30 km/h và cách vị trí xe ô tô do Viện điều khiển khoảng 3m. Do khoảng cách gần, V không kịp xử lý nên phần đầu xe ô tô do Viện điều khiển đã xô vào phần thân bên phải xe mô tô làm chị H1 và xe mô tô bị đổ, ngã xuống đường, chị H1 bị đẩy về phía trước khoảng 10m, xe mô tô bị cuốn vào gầm xe ô tô. Hậu quả: chị H1 bị tử vong tại hiện trường.
- Khám nghiệm hiện trường: Ngã tư giao nhau giữa đường T và đường trục xã M được rải nhựa bằng phẳng, không có vòng xuyến, không có hệ thống đèn tín hiệu giao thông. Đường T rộng 5m80, ở giữa có vạch sơn màu vàng kẻ thẳng phân chia mặt đường làm hai chiều đường xe chạy riêng biệt, chiều đường xe đi hướng từ xã M về Quốc lộ B rộng 3m. Đường trục xã M rộng 5m50 ở giữa có vạch sơn màu vàng kẻ thẳng đứt đoạn phân chia mặt đường thành hai chiều đường xe chạy ngược chiều riêng biệt, chiều đường xe đi từ Ủy ban nhân dân về thôn K 2m50. Vết cày kích thước 21m; vết miết kích thước 14m60; vị trí nạn nhân nằm úp gần mép đường chuẩn trên mặt đường T, xe ô tô biển kiểm soát 89C-005.29 dừng lại trên mặt đường T, đầu xe quay về phía Quốc lộ B, đuôi xe quay về phía xã M; xe mô tô biển kiểm soát 18S9-3092 nằm trên mặt đường T H3 và dưới gầm phía sau xe ô tô kiểm soát 89C-005.29; vết nhựa vỡ kích thước 8m40 x 2m30.
- Khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 18S9-3092: Mặt ngoài tay lái cụm phanh, ốp nhựa đầu xe, mặt yếm chắn gió bên phải xe mô tô, mặt ngoài càng xe, mặt má lốp và mặt vành bánh xe phía trước bên phải xe mô tô có dấu vết va chạm. Mặt ngoài yên xe, mặt giá đèo hàng, mặt cần khởi động xe mô tô, mặt giá để chân người lái, giá để chân người ngồi sau, mặt ống bô và mặt vành lốp bánh xe phía bên phải xe mô tô có dấu vết va chạm. Càng xe hư hỏng, vỡ mặt yếm chắn gió, phần đầu xe mô tô bị hư hỏng nặng.
- Khám nghiệm phương tiện xe ô tô tải biển kiểm soát 89C-005.29: Mặt trước cabin cạnh đầu xe, mặt cản trước, mặt biển số xe phía trước, mặt lăn bánh xe phía trước bên phải đầu xe, mặt dưới cầu xe bánh trước, mặt dưới cầu xe bánh sau, mặt trong má lốp của bánh xe phía trong, phía sau bên phải xe có dấu vết va chạm. Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 đoạn video clip từ Camera an ninh của Công an xã M, thành phố N ghi lại vụ tai nạn giao thông.
Bản Kết luận giám định số 223/KL-KTHS ngày 05-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định. Tốc độ của xe ô tô BKS 89C-005.29 tại thời điểm 10h58'01” ngay trước khi xảy ra va chạm trong mẫu cần giám định là 39,31 Km/h (±1,31 Km/h). Không đủ cơ sở để xác định tốc độ xe ô tô BKS 89C-005.29 trước khi xảy ra tai nạn trong mẫu giám định. Tốc độ của xe mô tô BKS 18S9-3092 tại thời điểm 10h58'01” ngay trước khi xảy ra va chạm trong mẫu cần giám định là 25,2 Km/h (± 0,84 Km/h). Tốc độ của xe mô tô BKS 18S9-3092 tại thời điểm 10h56’52” đến thời điểm 10h56’53” ngay trước khi xảy ra va chạm trong mẫu cần giám định là 26,42 Km/h (± 1,06 Km/h). Không xác định được phương tiện nào đi vào khu vực đường giao nhau trước trong mẫu cần giám định.
Quá trình điều tra xác định trong hơi thở và trong mẫu nước tiểu của Đỗ Quang V không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 121/KLGĐTT-KTHS ngày 27-12-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Nạn nhân Lê Thị H1 chết do đa chấn thương. Cơ chế: do va đập và trà sát.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Đỗ Quang V và Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 đã đến thăm hỏi và bồi thường cho gia đình nạn nhân Lê Thị H1 số tiền 350.000.000 đồng. Đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân là ông Trần Xuân Q đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.
Vật chứng trong vụ án: Sau khi điều tra, xác minh Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 18S9-3092 cho gia đình bị hại, ông Trần Xuân Q là đại diện theo uỷ quyền cho gia đình bị hại đã nhận lại xe và không có đề nghị gì khác. Cơ quan điều tra cũng đã xác minh và trả lại xe ô tô biển kiểm soát 89C-005.29 cho Công ty TNHH V1, anh Vũ Việt A là đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH V1 đã nhận lại và không có đề nghị gì khác.
Bản cáo trạng số 53/CT-VKSTPNĐ ngày 11-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Đỗ Quang V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Quang V khai nhận hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả chị Lê Thị H1 tử vong do đa chấn thương như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Đỗ Quang V tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ Quang V từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đỗ Quang V nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Quang V và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Quang V tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường ngày 21-12-2024, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 21-12-2024, biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 21-12-2024, các bản kết luận giám định pháp y tử thi số 121/KLGĐTT-KTHS ngày 27-12-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của người đại diện theo pháp luật, lời khai của người đại diện theo ủy quyền, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 21-12-2024, bị cáo Đỗ Quang V có giấy phép lái xe hạng C theo quy định, lái xe thuê cho Công ty TNHH V1 điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 89C-005.29 đi trên đường liên xã T theo hướng từ cầu Đ, xã M, thành phố N đến Quốc lộ B. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau với đường trục xã M, thành phố N, Viện không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đã xô vào xe mô tô biển kiểm soát 18S9-3092 do chị Lê Thị H1 điều khiển. Hậu quả làm chị Lê Thị H1 tử vong do đa chấn thương. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ nhưng đã điều khiển xe ô tô đi không đúng đã vi phạm khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hợp lệ và hiểu rõ các quy định của Luật giao thông đường bộ, đáng lẽ phải lường trước được các hậu quả có thể xảy ra, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý do cẩu thả. Vì vậy bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo và Công ty TNHH V1 đã bồi thường thiệt hại cho gia đình của bị hại, người đại diện theo uỷ quyền cho gia đình bị hại đã nhận tiền và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ngoài ra bị cáo Đỗ Quang V có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đỗ Quang V không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi của bị cáo Đỗ Quang V đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả là nghiêm trọng làm chị Lê Thị H1 tử vong. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Đỗ Quang V có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã xác minh xe mô tô biển kiểm soát 18S9-3092 là tài sản hợp pháp của bị hại, xe ô tô tải biển kiểm soát 89C-00529 là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH V1 nên đã trả lại tài sản cho gia đình bị hại và Công ty TNHH V1 là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Đỗ Quang V và Công ty TNHH V1 đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 350.000.000 đồng, ông Trần Xuân Q là người đại diện theo uỷ quyền của gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác về phần dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề bồi thường dân sự.
Đối với hậu quả là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18S9-3092 do là chị Lê Thị H1 điều khiển và chiếc xe ô tô biển kiểm soát 89C-00529 của Công ty TNHH V1 đều bị hư hỏng. Tuy nhiên gia đình của bị hại và Công ty TNHH V1 tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí:
Bị cáo Đỗ Quang V bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Quang V 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08-4-2025 (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 21-12-2024 đến ngày 30-12-2024).
Giao bị cáo Đỗ Quang V cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Đỗ Quang V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đỗ Quang V cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đỗ Quang V phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.
2. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đỗ Quang V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Đỗ Quang V có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Mạnh Hà |
Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 72/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Quang Viện
