|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Nhị;
Ông Nguyễn Hồng Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Tấn S; (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 24 tháng 9 năm 1999 tại: Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: không; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Cha: Nguyễn Văn C; Mẹ: Phạm Thị N; Vợ: Nguyễn Thị Thanh N1; Có 01 người con sinh năm 2021.
- Họ và tên: Lê Văn T. (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 22 tháng 01 năm 1987 tại: Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Cha: Lê Văn N2 (đã chết); Mẹ: Ngô Thị T1; Vợ: Lê Ngọc B; Có 02 người con, con lớn sinh năm 2008 con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 01/6/2022, bị TAND huyện Đức Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 01/9/2023.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/8/2024 đến nay, hiện tại đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.
Tiền án; Tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/6/2024 đến nay.
(Các bị cáo có mặt)
- Bị hại: Công Ty TNHH MTV T2; Địa chỉ: Khu phố C Nhà T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty: bà Trần Kim H - Giám đốc.(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 16/4/2024, Nguyễn Tấn S là đối tượng có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản đi uống nước tại quán nước ở gần nhà thì gặp Lê Văn T. Tại đây S và T rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Sau đó, T đi về nhà lấy một biển số xe mô tô không rõ số do T nhặt được trước đó cùng với một thanh kim loại có đầu hình lục giác (đoản), T gắn biển số giả nhặt được vào xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng - đen - đỏ, đăng ký biển số 62S1-147.85 của T, S cất giấu cái đoản trong người. Sau đó, T điều khiển xe Exciter gắn biển số giả, chở S đi từ huyện Đ hướng về huyện T để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, T và S đến trước Công ty TNHH MTV T2 do bà Trần Kim H làm chủ sở hữu. S thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu đỏ - bạc - đen, biển số 62G1-068.68 đậu ở hàng tư phía trước Công ty, không có người trông coi. S kêu T dừng xe và đứng ở ngoài lộ. S đi bộ vào bên trong Công ty, dùng đoản phá khóa xe mô tô biển số 62G1-068.68 và nổ máy thì bị bà H phát hiện truy hô. S điều khiển xe 62G1-068.68, T điều khiển xe Exciter chạy tẩu thoát về huyện Đ và mang xe 62G1-068.68 vừa trộm được đến khu vực gần biên giới tại huyện Đ để cất giấu. Sau đó, S vứt bỏ đoản kim loại, T tháo biển số giả đang gắn trên xe Exciter đem đi đốt, tiêu hủy. Ngày 18/4/2024, lực lượng Công an mời T làm việc. Tại cơ quan Công an T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp tang vật lấy trộm là xe mô tô biển số 62G1-068.68. Đến ngày 21/5/2024, Nguyễn Tấn S đến Công an huyện T đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 610/KL-HĐĐG ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã kết luận: Giá trị của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, màu đỏ bạc đen, biển số 62G1-068.68 tại thời điểm ngày 16/4/2024 là 13.900.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Nguyễn Tấn S và Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tấn S và Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong phần luận tội, ông Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Tấn S từ 01 năm đến 02 năm tù;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: bị cáo Lê Văn T từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng - đen - đỏ, biển số 62S1-147.85 của bị cáo T dùng làm phương tiện phạm tội.
Các bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện a và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản thu giữ vật chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 16/4/2024, tại Công ty TNHH MTV T2 do bà Trần Kim H làm chủ thuộc Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An, Nguyễn Tấn S và Lê Văn T đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu đỏ - bạc - đen, biển số 62G1-068.68 có trị giá là 13.900.000₫ của Công ty TNHH MTV T2. Do đó hành vi của các bị cáo: Nguyễn Tấn S và Lê Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
[3] Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi trái pháp luật của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý các bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy trong vụ án có 02 người tham gia nhưng không có bàn bạc, phân công vai trò cụ thể của từng người nên đây là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.
[5] Đối với bị cáo Nguyễn Tấn S là người có tiền án về tội Trộm cắp tài sản nhưng không chịu cải sửa để trở thành người tốt, ngày 16/4/2024 bị cáo S rủ bị cáo T đi tìm tài sản lấy trộm bán chia nhau tiêu xài, khi đến Công ty TNHH MTV T2 thì bị cáo S trực tiếp vào bẻ khóa xe 62G1-068.68 rồi lấy xe chạy về Đức Huệ cất giấu nên cần xử lý bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã đầu thú nhưng bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phám.
[6] Đối với bị cáo Lê Văn T là người chưa có tiền án, tiền sự nhưng không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, vào ngày 16/4/2024 bị cáo cùng thống nhất ý chí với bị cáo S là đi tìm tài sản để trộm cắp bán chia nhau tiêu xài, khi đến Công ty TNHH MTV T2 thì bị cáo đứng bên ngoài, bị cáo S trực tiếp vào trong Công ty bẻ khóa xe 62G1-068.68 rồi lấy xe chạy về Đ cất giấu nên cần có một hình phạt tù để giáo dục bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; cha của bị cáo là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, bị cáo đang nuôi mẹ già 75 tuổi. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, là người có nhân thân tốt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối Cao nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật là tạo điều kiện cho bị cáo ở nhà chăm sóc mẹ già và nuôi con nhỏ.
Đề nghị của bà Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: bà Trần Kim H đã nhận lại tài sản là xe mô tô của Công ty bị mất trộm không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[8] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu đỏ - bạc - đen, biển số 62G1-068.68 là tài sản của Công ty TNHH MTV T2. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trao trả cho đại diện Công ty T2 là bà Trần Kim H; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng - đen - đỏ, biển số 62S1-147.85. Xét thấy Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trao trả xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu đỏ - bạc - đen, biển số 62G1-068.68 cho Công Ty T2 là đúng pháp luật. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng - đen - đỏ, biển số 62S1-147.85 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo T đã dùng làm phương tiện để phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Tấn S và Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 19/8/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; các điểm: i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2024).
Giao bị cáo Lê Văn T về Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Tấn S 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng - đen - đỏ, biển số 62S1-147.85
(Vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc các bị cáo Nguyễn Tấn S và Lê Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo và Công ty TNHH MTV T2 biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn S cùng đồng phạm
