Hệ thống pháp luật

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Hạnh phúc

Độc lập - Tự do -

Bản án số: 72/2024/HS-STNgày: 13-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bích Văn Nhiên.

Thẩm phán: Bà Phạm Phong Lan.

Hội thẩm nhân dân: Bà Thanh Thị Minh Hiền, ông Nguyễn Hữu Nhạc và ông Thái Thành Bi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Cao Thị Phương D, sinh năm 1978, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Số C T, Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; nơi tạm trú: Khu dân cư D, thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn C (Chết) và bà Nguyễn Thị A; có chồng Nguyễn Trọng P và 03 con; Tiền án, tiền sự và nhân thân: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 25/4/2024, hiện giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo D: Bà Nguyễn Thị Hiệp H, là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ C H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.

- Bị hại: Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số C T, Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1972; Nơi cư trú: thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Bá H2, sinh năm 1972; Nơi cư trú: D N, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2016, Cao Thị Phương D đầu tư bằng hình thức kinh doanh đa cấp và bị thua lỗ, dẫn tới nợ số tiền khoảng 6.000.000.000 đồng. D biết bà Đặng Thị H1 thường cho người khác vay tiền để lấy lãi nên vào năm 2019 D có vay của bà H1 số tiền 200.000.000 đồng, với lãi suất 06 %/tháng và đã trả đủ lãi và gốc cho bà H1 đúng thời. Do D nợ bà Phạm Thị Mỹ L số tiền 1.150.000.000 đồng nên bà L đã nhiều lần đòi tiền D để lấy tiền trả cho bà Đặng Thị H1 số tiền 900.000.000 đồng mà L đang nợ bà H1. D chưa có tiền để trả cho bà L nên thỏa thuận với bà L là D sẽ đứng ra trả số tiền 900.000.000 đồng cho bà H1 (Cấn nợ) thay cho bà L, số tiền còn lại bà L cho D. Ngày 09/4/2020, Cao Thị Phương D và chồng là ông Nguyễn Trọng P đến gặp bà H1 đặt vấn đề thay bà L trả nợ số tiền 900.000.000 đồng thì bà Hòa đồng Ý. Sau đó D đã trả cho bà H1 số tiền 450.000.000 đồng.

Tháng 11 năm 2020, Cao Thị Phương D đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình thế chấp cho bà Nguyễn Thị V để vay số tiền 3.000.000.000 đồng, trả lãi 120.000.000 đồng/01 tháng. D dùng số tiền này để trả lãi cho bà V, trả cho những chủ nợ trước đó và tiêu xài cá nhân. Khoảng tháng 5/2021, D hỏi vay bà H1 số tiền 700.000.000 đồng để cho người khác vay lại làm đáo hạn ngân hàng thì bà Hòa đồng Ý cho vay với lãi suất là 04%/ngày, bà H1 sẽ cho D hưởng 01%/ngày/tổng số tiền vay. Sau đó D trả gốc và lãi cho bà H1 đúng cam kết, từ đó D tạo được lòng tin từ bà H1. Tuy nhiên, do số tiền hưởng chênh lệch ít, D không đủ tiền trả lãi cho bà V. Từ khoảng tháng 7 năm 2021, do trong giai đoạn này dịch Covid đang bùng phát nên mọi giao dịch, làm ăn bị ngưng trệ, D đã nghĩ ra thủ đoạn gian dối, nói dối với bà H1 là có người cần đáo hạn ngân hàng để bà H1 tin tưởng đưa cho D số tiền lớn hơn. Sau khi nhận được tiền từ bà H1, D không cho vay đáo hạn ngân hàng mà dùng tiền bà H1 đưa trả nợ cho người khác, đồng thời D trả một số tiền gốc ít hơn số tiền bà H1 đưa cho D và trả tiền lãi cho chính bà H1 để tạo niềm tin lấy tiền những lần tiếp theo.

Với thủ đoạn như trên, từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 12 năm 2021, Cao Thị Phương D nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền của bà Đặng Thị H1 với lý do để cho người khác vay đáo hạn ngân hàng. Bà H1 tưởng thật nên đã sử dụng hai tài khoản ngân hàng S mở tại Ngân hàng V1 (V2) chi nhánh thị xã L, tỉnh Bình Thuận và tài khoản ngân hàng số [...] mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C3 (V3) chi nhánh thị xã L, tỉnh Bình Thuận đều mang tên Đặng Thị H1 chuyển tiền nhiều lần tiền vào tài khoản ngân hàng số [...] của Cao Thị Phương D mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C3 (V3) chi nhánh huyện H, tỉnh Bình Thuận. Khi nhận được tiền, D không dùng vào mục đích đáo hạn ngân hàng mà dùng trả nợ cá nhân. Khi trả tiền lãi và tiền gốc cho bà H1 của lần vay trước (Theo hình thức gối đầu) để tạo lòng tin từ bà H1, D sẽ nói dối là có người cần tiền đáo hạn số tiền lớn hơn để tiếp tục vay tiền bà H1. Đến thời điểm cuối tháng 12 năm 2021, số tiền bà H1 đã chuyển cho D nhiều hơn số tiền D chuyển lại cho bà H1 là 8.100.000.000 đồng. Bà H1 hối thúc việc trả nợ và không đồng ý tiếp tục cho D vay tiền để làm đáo hạn ngân hàng. Ngày 15/01/2022, D đưa cho bà H1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Cao Thanh D1 là em con chú bác ruột với D đến gặp bà H1 để thế chấp vay tiếp số tiền 1.800.000.000 đồng, nói để cho người khác vay đáo hạn ngân hàng. Do D đưa cho bà H1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm tin nên bà Hòa đồng Ý và đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S1 (V3) của Cao Thị Phương D số tiền 1.800.000.000 đồng. Đến sáng ngày 21/01/2022, D gọi điện thoại cho bà H1 nói người vay số tiền 1.800.000.000 đồng đã chuyển trả tiền vào tài khoản của D, D sẽ dùng số tiền này để tiếp tục đáo hạn ngân hàng và đến nhà bà H1 lấy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Cao Thanh D1 về thì bà Hòa đồng Ý. Đến khoảng 14 giờ ngày 21/01/2022, D tiếp tục hỏi vay bà H1 số tiền 3.000.000.000 đồng nói để làm đáo hạn ngân hàng. D nói với bà H1 khách cần vay gấp số tiền trên vì là ngày làm việc thứ sáu cuối tuần, qua đầu tuần giải ngân bà H1 sẽ nhận được tiền rồi nghỉ Tết Nguyên đán luôn; nếu không làm đáo hạn khách hàng này thì sau này ngân hàng sẽ không cho làm nữa. Nghe vậy, bà H1 tưởng thật và đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S1 (V3) của Cao Thị Phương D số tiền 3.000.000.000 đồng. Ngày 22/01/2022, D tiếp tục hỏi vay bà H1 số tiền 2.000.000.0xxx đồng để đáo hạn ngân hàng với lý do khách cần tiền gấp để xử lý trước Tết Nguyên đán khỏi bị nợ xấu và hứa hẹn sau lần này sẽ trả hết số tiền gốc cho bà H1. Bà H1 tưởng thật và đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S1 (V3) của Cao Thị Phương D số tiền 2.000.000.000 đồng. Ngày 23/01/2024, bà H1 liên tục hối thúc D trả tiền thì lúc này D thừa nhận đã dùng hết số tiền bà H1 đưa để trả nợ những người khác dẫn tới không còn khả năng trả nợ. Tổng số tiền chênh lệch mà bà H1 cho D vay so với tổng số tiền D chuyển trả lại cho bà H1 là 14.900.000.000 đồng. Bà H1 yêu cầu D viết giấy mượn bà H1 số tiền 14.900.000.000 đồng nhưng D chỉ viết giấy mượn bà H1 số tiền 13.000.000.000 đồng, còn 1.900.000.000 đồng D nói vài ngày nữa sẽ trả.

Sáng ngày 26/01/2022, Cao Thị Phương D đưa 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên người khác, gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 153750 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã L cấp cho ông Lê Văn  ngày 11/01/2017, chỉnh lý sang tên cho ông Nguyễn Bá H2 vào ngày 25/01/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM689699 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Hữu X và bà Nguyễn Thị X1 ngày 23/10/2018; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 646690 được Ủy ban nhân dân thị xã L cấp cho ông Phan T và bà Lương Thị Kim T1 ngày 27/8/20215; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 981175 được Ủy ban nhân dân thị xã L cấp cho bà Nguyễn Thị H3 ngày 15/12/20211; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô AI 071309 được Ủy ban nhân dân thị xã L cấp cho ông Võ T2 và bà Hồ Thị Lệ O ngày 14/9/2007; Giấy chứng nhận quyền sử duạng đất do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp cho ông Trần Văn H4 và Trần Thị K ngày 27/12/2007; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 032867 được Ủy ban nhân dân thị xã L cấp cho ông Dương Văn T3 và bà Trần Thị C1 ngày 08/04/2008. D đến gặp bà H1 đề nghị thế chấp để vay số tiền 8.000.000.000 đồng. Nguồn gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Bá H2 là do khi mua bán với chủ trước, ông H2 nhờ D làm các thủ tục sang tên cho ông H2 nhưng do dịch C2 19 nên ông H2 chưa gặp D để lấy sổ đã sang tên cho mình và 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại là do chủ sở hữu đưa đến cầm thế cho bà Nguyễn Thị V, sau đó bà V nhờ D đưa đi cầm thế cho bà H1 để lấy số tiền lớn hơn. D nói sẽ trả cho bà H1 số tiền 4.000.000.000 đồng còn 4.000.000.000 đồng để trả cho người khác. Bà H1 sợ tiếp tục bị lừa nên không đồng ý cho D vay tiền và giữ lại 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Sau đó, D vay mượn gia đình trả cho bà H1 số tiền 4.000.000.000 đồng. D và bà H1 thống nhất chốt số tiền D chưa trả cho bà H1 là 11.350.000.000 đồng (Bao gồm cả 450.000.000 đồng chưa trả từ việc nhận trả nợ cho bà L). Ngày 04/7/2022, bà Đặng Thị H1 đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Cao Thị Phương D đến Cơ quan điều tra đồng thời cung cấp các giấy mượn tiền có chữ ký của Cao Thị Phương D:

  • - Giấy mượn tiền ngày 09/4/2020, nội dung D mượn của bà Đặng Thị H1 số tiền 900.000.000 đồng (Là tiền bà D thay bà L trả nợ cho bà H1).
  • - Giấy mượn tiền ngày 12/10/2020, nội dung D mượn tiền bà Đặng Thị H1 giúp cho Cao Thanh D1 số tiền 100.000.000 đồng.
  • - Giấy mượn tiền ngày 21/01/2022, nội dung D mượn của bà Đặng Thị H1 số tiền 13.000.000.000 đồng.
  • - Giấy mượn tiền ngày 26/01/2022, nội dung D mượn của bà H1 số tiền 8.000.000.000 đồng (Đây là số tiền D đưa 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho bà H1 để mượn tiền, sau khi làm giấy nhận nợ thì bà H1 không đồng ý cho vay và giữ lại tờ giấy mượn tiền này).

Tại Bản kết luận giám định số 128 ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B, kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Cao Thị Phương D tại vị trí phía dưới cùng trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1; dưới mục: “Người mượn tiền” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết mang tên Cao Thị Phương D trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 là do cùng một ngươi ký, viết.

Về phần dân sự:

Cao Thị Phương D khai đã khắc phục cho bà Đặng Thị H1 số tiền 2.100.000.000 đồng; trong đó có số tiền 500.000.000 đồng tiền D đóng huê cho bà H1. Bà H1 chỉ đồng ý đến nay D đã khắc cho bà H1 số tiền 1.600.000.000 đồng, còn 500.000.000 đồng số tiền nợ huê thì bà H1 đã trả cho D trước đó. Bà Đặng Thị H1 yêu cầu Cao Thị Phương D tiếp tục bồi thường số tiền là 9.300.000.000 đồng.

Đối với số tiền 450.000.000 đồng D nhận cấn nợ, trả nợ thay cho bà L (900.000.000 đồng, đã trả được 450.000.000 đồng) và khoản tiền huê 500.000.000 đồng. Đây là thỏa thuận giao dịch dân sự, khi các bên có yêu cầu Tòa án sẽ xử lý trong một vụ án dân sự khác.

Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKSBT-P1 ngày 19/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Cao Thị Phương D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố tại Cáo trạng và đề nghị:
  • Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Cao thị Phương D từ 12 năm đến 14 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Cao Thị Phương D và bị hại bà Đặng Thị H1 số tiền là 8.300.000.000 đồng.
  • - Luật sư H1 bào chữa cho bị cáo: Thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cao Thị Phương D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại và bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi, vì bị hại đã cho vay với mức lãi suất vượt quá quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khấu trừ số tiền lãi trả vượt mức lãi suất quy định vào số tiền gốc đã vay, để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố nhưng bị cáo chỉ thừa nhận chiếm đoạt của bị hại số tiền 8.300.000.000 đồng (Tám tỷ ba trăm triệu đồng).
  • - Bị hại Đăng Thị H5 thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo như nội dung cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa, bị hại đồng ý số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 8.300.000.000 đồng (Tám tỷ ba trăm triệu đồng). Bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm hoàn trả cho bị hại số tiền 8.300.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người liên quan bà Nguyễn Thị V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác là đúng quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Xác định tội danh và căn cứ buộc tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Thị Phương D khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, đủ cơ sở kết luận: Do làm ăn thua lỗ không có tiền trả gốc và lãi cho những chủ nợ nên Cao Thị Phương D đã dùng thủ đoạn gian dối, nói dối với bà Đặng Thị H1 là có nhiều người cần vay đáo hạn ngân hàng và trả lãi suất cao để bà H1 tin tưởng đưa tiền cho D vay để D cho người khác vay làm đáo hạn ngân hàng. Khi nhận được tiền, D không dùng vào mục đích cho vay để đáo hạn ngân hàng mà dùng trả nợ và tiều xài cá nhân. Từ khoảng tháng 7 năm 2021 đến tháng 01 năm 2022, D đã chiếm đoạt của bà H1 số tiền 8.300.000.000 đồng (Tám tỷ ba trăm triệu đồng).

Với hành vi phạm tội như trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Cao Thị Phương D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và lời bào chữa của Luật sư tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi nêu trên của Cao Thị Phương D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tình tiết tăng nặng: Không.

[6] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Cao Thị Phương D nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo; đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Đối với hành vi của bà Đặng Thị H1 và bà Nguyễn Thị V có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Cơ quan Cảnh sát điểu tra Công an tỉnh B đã có văn bản và chuyển các tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điểu tra thị xã L, tỉnh Bình Thuận để xử lý theo thẩm quyền, là có căn cứ.

[8] Đối với 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Cao Thị Phương D đưa cho bà Đặng Thị H1 (Đứng tên Nguyễn Bá H2; Nguyễn Hữu X; Phan T - Lương Thị Kim T1; Nguyễn Thị H3; V - Hồ Thị Lệ O; Trần Văn H4 - Trần Thị K; Dương Văn T3 - Trần Thị C1) để cầm cố vay số tiền 8.000.000.000 đồng, sau đó bị bà H1 giữ lại tại Bản án số 68/2023/DS-ST ngày 17/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, xét xử vụ án tranh chấp về việc đòi lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã tuyên buộc bà H1 phải trả lại 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Cho Nguyễn Hữu X; Phan T - Lương Thị Kim T1; Nguyễn Thị H3; V - Hồ Thị Lệ O; Trần Văn H4 - Trần Thị K; Dương Văn T3 - Trần Thị C1), nên không xem xét xử lý trong vụ án này. Hiện bà Đặng Thị H1 còn giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 153750 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L cấp cho ông Lê Văn  ngày 11/01/2017, đã chỉnh lý sang tên cho ông Nguyễn Bá H2 vào ngày 25/01/2022. Do không liên quan trong vụ án nên ông Nguyễn Bá H2 có quyền khởi kiện sang vụ việc dân sự.

[9] Về phần bồi thường dân sự: Công nhận sựu thỏa thuận bồi thường dân sự. Bị cáo Cao Thị Phương D phải hoàn trả cho bị hại Đặng Thị H1 số tiền chiếm đoạt 8.300.000.000 đồng (Tám tỷ ba trăm triệu đồng).

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Cao thị Phương D phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ".

Xử phạt bị cáo Cao thị Phương D 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 4 năm 2024.

2. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự.

Bị cáo Cao thị Phương D bồi thường cho bị hại bà Đặng Thị H1 số tiền là 8.300.000.000 đồng (Tám tỷ ba trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 116.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 13 tháng 11 năm 2024).

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
   
Phạm Phong Lan Bích Văn Nhiên
 
Thành Thị Minh Hiền Nguyễn Hữu Nhạc Thái Thành Bi
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Cao thị Phương Dung phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ". Xử phạt bị cáo Cao thị Phương Dung 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 4 năm 2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger