TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày 12-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Xuyến;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình,
Ông Hoàng Văn Đoan.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện – Kiểm sát viên.
- Người tham gia tố tụng khác: Bà Trần Thị T, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử thuộc Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, thành phố Hải Phòng vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 276/TB-TA ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Thị P, sinh ngày 22/6/1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P1 và bà Phạm Thị Đ; có chồng là Đỗ Bá Q (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam, có mặt.
2. Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/7/1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị R (đã chết); có vợ là Phạm Thị L (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 18/2011/HSPT ngày 21/02/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng sửa bản án sơ thẩm, xử phạt H 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo chấp hành xong các quyết định của bản án ngày 03/10/2016, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam, có mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong hai ngày 10 và 11/6/2024, Trần Thị P đi từ nhà ra khu vực đường tàu thuộc quận L, thành phố Hải Phòng mua 02 gói nilon bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng của một người phụ nữ không quen biết để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, P mang về nhà mình cất giấu. Đến khoảng 14 giờ ngày 11/6/2024, P giấu 02 túi nilon bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá) vào túi quần phía trước bên phải rồi đi đến nhà Nguyễn Văn H ở thôn T, xã K, huyện T chơi. Khi P đến nhà H, gặp H và Nguyễn Văn T2 sinh năm 1996 ở khu E thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (là bạn chơi cùng H và P). Trong lúc ngồi nói chuyện, P nhìn thấy có chai nhựa được đục hai lỗ, một lỗ gắn tẩu thủy tinh và một lỗ gắn đoạn ống hút, bật lửa (dạng bật lửa khò), kéo bằng kim loại đang để sẵn trên nền nhà của H. P lấy một túi nilon bên trong chứa ma túy đá, dùng kéo cắt mép túi nilon, đổ ma túy vào trong tẩu thủy tinh, số ma túy còn lại P cất vào trong túi quần. P bật lửa đốt đáy tẩu hút 03 lần, hút xong P châm lửa đốt coóng mời Thái hút 02 lần, T2 hút xong thì H tự châm lửa hút 03 lần và châm lửa đốt coóng mời Thái hút 01 lần, T2 tự châm lửa hút 03 lần. Sau khi sử dụng ma túy, P, H và T2 ngồi nghỉ tại nhà H, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi thấy tổ công tác Công an huyện T kiểm tra thì P móc trong túi quần 02 túi nilon bên trong chứa ma túy vứt xuống nền nhà, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 02 túi nilon màu trắng kích thước (2,8 x 2,5)cm và (2,5 x 2,5)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng, một đoạn ống hút kích thước (3,5 x 0,8)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 1); một nắp nhựa cao 1,2cm, đường kính 03cm được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút, một lỗ gắn tẩu thủy tinh, trong tẩu có bám dính chất màu nâu đen (mẫu số 2), một chai nhựa vỏ gắn nilon màu xanh, cao 21cm, đường kính 6,2cm bên trong chứa chất lỏng không màu (mẫu số 3); 01 bật (dạng bật lửa khò), một kéo bằng kim loại.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của P, H và T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 737/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,90 gam, loại: Methamphetamine. Chất màu nâu đen bám dính trong tẩu thủy tinh của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên. Chất lỏng của mẫu số 03 gửi giám định có thể tích 45ml, tìm thấy dấu vết chất ma túy, loại: Methamphetamine. Không đủ cơ sở xác định hàm lượng, khối lượng chất ma túy trên”.
Kết quả xét nghiệm của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: P, H và Thái dương T3 với ma tuý, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, P, H khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên, thừa nhận: Do cùng nghiện ma túy đá nên ngày 11/6/2024 P, H đã rủ nhau sử dụng ma túy tại nhà H, T2 chỉ thụ hưởng, không tham gia bàn bạc, không có hành vi giúp sức cùng P, H trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Số ma túy P, H và T2 sử dụng ngày 11/6/2024 do P mua của người phụ nữ không quen biết tại khu vực đường tàu thuộc quận L, thành phố Hải Phòng với giá 1.000.000 đồng. H và T2 không biết việc P cất giấu ma túy trong người. Khi Công an bắt quả tang, vì lo sợ nên P ném 02 gói nilon chứa ma túy xuống nền nhà. Mục đích P cất giấu ma túy là để sử dụng cho bản thân.
Nguyễn Văn T2 khai: Khoảng 14 giờ ngày 11/6/2024, T2 đi xe bus đến nhà H chơi thì thấy H, P đã có mặt ở nhà H. Quá trình ngồi chơi, P cho ma túy đá vào coóng rồi châm lửa sử dụng, sau đó P, H lần lượt châm lửa cho T2 hút 03 lần, T2 tự châm lửa hút 03 lần, T2 không phải trả tiền công để được sử dụng ma túy, không biết việc P cất giấu ma túy trong người.
Cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 23/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố Trần Thị P về các tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Văn H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Thái vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có văn bản thay đổi lời khai.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, lập luận, giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Trần Thị P phạm tội các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Nguyễn Văn H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Thị P từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Thị P từ 08 năm đến 09 năm tù, xử phạt Nguyễn Văn H từ 08 năm đến 09 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc P phải chấp hành hình phạt chung từ 10 năm đến 11 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với P, H do các bị cáo là người nghiện ma túy có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế.
Về vật chứng: Căn cứ các điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 01 chai nhựa đựng chất lỏng 250ml, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 tẩu thủy tinh), 01 bật lửa gas, 01 chiếc kéo bằng kim loại. Về án phí: P, H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Chứng cứ, tài liệu do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp có trong hồ sơ vụ án đều đảm bảo hợp pháp; được thu thập, cung cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, kết luận giám định về ma túy, vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sự phù hợp đó đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Trần Thị P, Nguyễn Văn H đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Ngày 11/6/2024, tại nhà ở của H tại thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng, P đã cố ý thực hiện hành vi cung cấp ma túy (loại Methamphetamine) cho H và Nguyễn Văn T2 sử dụng. H cố ý cung cấp địa điểm (là nhà ở của mình), dụng cụ cho P và T2 sử dụng ma túy. Ngoài ra P còn cố ý thực hiện hành vi cất giấu 0,90 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của P cung cấp ma túy cho H, T2 sử dụng; hành vi của H cung cấp địa điểm, công cụ để P, T2 sử dụng ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do phạm tội thuộc trường hợp “đối với 2 người trở lên” nên P, H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của P cất giấu 0,90 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; xâm phạm trật tự an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng, làm suy thoái đạo đức, lối sống, thể chất, tinh thần một bộ phận trong nhân dân, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm và tệ nạn xã hội khác.
[5] Về vị trí vai trò: P, H đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó P cung cấp ma túy (mua ma túy mang đến nhà ở của H sử dụng); H cung cấp địa điểm, dụng cụ để P, H và T2 cùng sử dụng trái phép ma túy; do đó, P có vai trò cao hơn H.
[6] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: P không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, P, H đều thành khẩn khai báo nên cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù tiền án về tội Cố ý gây thương tích của H đã được xóa án tích, song lần phạm tội này cần xác định H là người phạm tội có nhân thân xấu.
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, vị trí vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; xét thấy P phạm nhiều tội; P, H đều là người nghiện ma túy, nhân thân xấu nên cần căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới bảo đảm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng chống tội phạm. Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cần xử phạt P, H mức hình phạt bằng nhau và bằng mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Do P phạm hai tội nên cần căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc P chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội. Xét thấy, các bị cáo đều là người nghiện ma túy có khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được lý lịch của người phụ nữ bán ma túy cho P nên tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau. Nguyễn Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng là người thụ hưởng, không góp tiền, cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để sử dụng ma túy nên hành vi của T2 không cấu thành tội phạm; ngày 09/7/2024 Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với T2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[9] Về vật chứng: Xét thấy, 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 01 chai nhựa đựng chất lỏng 250ml, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 tẩu thủy tinh), 01 bật lửa gas, 01 chiếc kéo bằng kim loại là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, ma túy là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[10] Về án phí: P, H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị P phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
1. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính:
+ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, phạt Trần Thị P 02 (Hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, phạt: Trần Thị P 08 (Tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc Trần Thị P phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/6/2024.
+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, phạt: Nguyễn Văn H 08 (Tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Trần Thị P, Nguyễn Văn H.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 01 chai nhựa đựng chất lỏng 250ml, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 tẩu thủy tinh), 01 bật lửa gas, 01 chiếc kéo bằng kim loại có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Trần Thị P, Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
7
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phuong Hung to chuc su dung trai phep chat ma tuy
