Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 23-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Đặng Thị Đôi
    • Ông Cao Văn Tân
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi lịch phiên tòa số 04/2024/TB-TA ngày 16 tháng 10 năm 2024 (Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy tại điểm cầu thành phần là bà Đinh Thị Hồng P), đối với bị cáo:

Đỗ Đức H, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1986; đăng ký hộ khẩu thường trú; Tổ dân phố V, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn S, sinh năm 1956 và bà Đồng Thị T, sinh năm 1957; có vợ là Phạm Thị C, sinh năm 1990 (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 07/2009 ngày 18/3/2009 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” (đã xóa án tích); Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ-XPHC ngày 20/10/2020 của Công an xã H, huyện K xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác (được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 04/6/2024 chuyển tạm giam, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên tối ngày 29/5/2024 Đỗ Đức H đi xe tắc xi từ nhà mình đến khu vực Công ty M ở đường M, quận D, thành phố Hải Phòng mua ma túy sử dụng. Tại đây H mua của một người đàn ông không quen biết 14 túi nilon đựng ma túy Methamphetamine và Ketamine; 21 viên ma túy MDMA với giá 19.000.000 đồng. Sau đó H mang ma túy về nhà cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng L rồi cất giấu ở khe cửa chính bên phải. Tối ngày 31/5/2024 H lấy 01 túi nilon đựng 05 viên ma túy MDMA màu xanh, 02 túi nilon đựng ma túy Methamphetamine và Ketamine đi sang khu vực thôn L, xã Đ, huyện K để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ 02 túi nilon cùng kích thước 2,5x2,5cm chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) và 01 túi nilon kích thước 4x6cm bên trong có 05 viên nén màu xanh (ký hiệu M2). Khám xét tại nhà Đỗ Đức H thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 03 túi nilon gồm 01 túi nilon kích thước 4x6cm đựng 13 viên nén màu xanh (ký hiệu MK1), 01 túi nilon kích thước 4x6cm đựng 03 viên nén màu hồng (ký hiệu MK2) và 01 túi nilon kích thước 14x8cm đựng 12 túi nilon cùng kích thước 2,5x2,5cm, bên trong đều có tinh thể màu trắng (ký hiệu MK3).

Tại Kết luận giám định số 652/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, Kết luận giám định số 5825/KL-KTHS ngày 06/8/2024 và Công văn số 2658/C09-TT2 ngày 13/9/2024 của V Bộ C2 kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu M1 là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,03 gam và ma túy loại Ketamine có khối lượng 1,27gam. Các viên nén của mẫu M2 là ma túy MDMA có khối lượng 2,06 gam. Các viên nén màu xanh của mẫu MK1 là ma túy loại MDMA có khối lượng 5,36 gam. Các viên nén màu hồng của mẫu MK2 là ma túy loại MDMA có khối lượng 1,40 gam. Tinh thể màu trắng của mẫu MK3 là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,60 gam và ma túy loại Ketamine có khối lượng 7,21 gam”.

Bản cáo trạng số 66/CT-VKSKT ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Đức H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người điều khiển xe tắc xi, người đàn ông bán ma túy cho Đỗ Đức H vào ngày 29/5/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện K chưa xác minh được tên, tuổi, địa chỉ nên tiếp tục xác minh để xử lý sau.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đỗ Đức H về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 - 07 năm tù; phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì thư chứa chất ma túy sau giám định.

- Ý kiến của bị cáo Đỗ Đức H: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Đức H khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy nên Đỗ Đức H thường mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Ngày 29/5/2024, bị cáo H đã mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Công ty M ở đường M, quận D, thành phố Hải Phòng 14 túi nilon đựng ma túy Methamphetamine và Ketamine; 21 viên ma túy MDMA với giá 19.000.000 đồng với mục đích sử dụng sau đó mang về nhà cất giấu. Tối ngày 31/5/2024 bị cáo lấy 01 túi nilon đựng 05 viên ma túy MDMA màu xanh, 02 túi nilon đựng ma túy Methamphetamine và Ketamine đi sang khu vực thôn L, xã Đ, huyện K để tìm nơi sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo H nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy đã đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đỗ Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Đỗ Đức H có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trong đó lượng ma túy bị cáo tàng trữ qua giám định là 0,63 gam ma túy loại Methamphetamine; 8,82 gam ma túy loại MDMA và 8,48 gam ma túy loại Ketamine. Do bị cáo có hành vi tàng trữ các chất ma túy khác nhau nên cần áp dụng Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tính cụ thể như sau: (0,63 gam Methamphetamine x 100 : 30 gam) + (8,82 gam MDMA x 100 : 30gam) + (8,48 gam Ketamine x 100 : 100gam) = 39,98% (thuộc trường hợp <100%). Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến và được tặng thưởng huy hiệu 55 năm tuổi Đảng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Nhân thân bị cáo có 01 tiền án và 01 tiền sự đã được xóa án tích nên lần phạm tội này không tính tái phạm đối với bị cáo nhưng cũng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, không có ý thức cải tạo, tu dưỡng để trở thành người công dân lương thiện. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt cao trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cũng như có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do đó cần phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

[6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ những vật chứng sau: Vỏ bao bì chứa số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm n khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Đỗ Đức H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 (Mười lăm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 5825/KL-KTHS được niêm phong bởi các chữ ký họ tên Hoàng Thế T1, Bùi Đức T2 và các dấu đỏ của V Bộ C2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng)

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Đỗ Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND; TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Công an huyện Kiến Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Phòng PV06; PC10
  • - UBND phường Hưng Đạo, Dương Kinh;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Khúc Trọng Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 6 năm 6 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger