|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày 30-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
- Ông Phạm Thành Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành An, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 170/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hồ Quý N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 15/12/1997 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 6/12; con ông: Trần T; sinh năm: 1964; con bà: Hồ Thị M, sinh năm: 1963; vợ: Phạm Thị Như N1, sinh năm: 1997; con: Có 01 người, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 19/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xử phạt 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 19/12/2015; ngày 31/3/2020, bị Công an huyện T, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 4.000.000 đồng về các hành vi “Đánh bạc” và “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 28/5/2020; ngày 07/9/2021, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 4.000.000 đồng về các hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 25/11/2021;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trương Thanh T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm A, thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Ngọc H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Anh Đỗ Văn T3, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Anh Trần Quí H1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Chị Trương Thị K, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Chị Trần Thị S, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Chị Huỳnh Thị N2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 05/4/2024, Trần Hồ Quý N - sinh năm 1997 và Nguyễn Minh T2 - sinh năm 1995 ở cùng thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nhậu tại nhà của N ở thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. N và T2 nhậu đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày thì nghỉ. Lúc này, N nói T2 cho N mượn xe mô tô biển số 77X7-2243 của T2 để N đi đến nhà anh Trần Đ - sinh năm 1992 ở thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (anh ruột N) thì T2 nói để T2 chở N đi. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 77X7-2243 chở T2 cùng đi đến thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Khi còn cách nhà anh Trần Đại K1 600 mét thì xe mô tô biển số 77X7-2243 hết xăng. N và T2 để lại xe rồi đi bộ hướng đến nhà anh Đại Đ1 mượn tiền đổ xăng. Khi đi đến khu vực trước nhà anh Trương Thanh T1 - sinh năm 1982 ở thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định thì N thấy anh T1 đang ngồi nói chuyện với anh Đỗ Văn T3 - sinh năm 1990, trú thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định ở mép đường trải nhựa trước nhà anh T1. N đi đến dùng tay trái nắm cổ áo anh T1 kéo lên và nói “Đụ mẹ tối nay tao đánh mầy, giết mầy nha thằng T1”. Anh T1 nói “Tao làm gì mà đánh tao” rồi dùng tay đánh vào mặt N một cái thì N bỏ tay ra. Lúc này, T2 cùng người dân đến can ngăn không cho hai bên đánh nhau. T2 nói N đi về nhưng N không nghe nên T2 bỏ đi. N nói với anh T1 “Đụ mẹ mầy đánh tao thì tối nay tao cũng giết mầy à”. Lúc này, anh Trần Quí H1 - sinh năm 1987, trú thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (anh ruột N) đi xe mô tô đến chở N về nhà ở thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, N nghĩ xe mô tô biển số 77X7-2243 vẫn còn ở thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên đi bộ từ nhà đến lấy xe về. Khi đi đến tiệm tạp hóa của chị Trương Thị K - sinh năm 1985 ở xóm A, thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định thì N ghé vào mua 01 (một) lít xăng và mượn chai nhựa loại 01 (một) lít đựng xăng để mang đến đổ vào xe mô tô biển số 77X7-2243. Sau đó, N cầm chai xăng đến chỗ đậu xe trước đó ở khu vực thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nhưng không thấy xe đâu. N nghĩ T2 đã dắt xe xuống nhà anh Trần Đại N3 cầm chai xăng đi về hướng nhà anh Đ. Khi đi đến khu vực nhà anh Trương Thanh T1 thì N thấy anh T1 đang ngồi nói chuyện với anh Lê Ngọc H - sinh năm 1985, trú thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định trên hè nhà T1 (Lúc này, có vợ anh T1 là chị Nguyễn Ngọc P - sinh năm 1985 cũng đang ngồi chơi trên hè nhà). N bực tức việc anh T1 đánh N nên cầm chai xăng đi vào khu vực nhà anh T1. Thấy N nên anh H đi đến đứng trước mặt anh T1, anh H nói “Anh H đây Chín”. N đi vào sân nhà anh T1, N vừa nói “Giờ muốn chết không, mầy đánh tao đúng không” vừa dùng tay bóp chai xăng làm bung nắp chai văng xăng lên khu vực hè nhà anh T1 trúng một ít vào áo của anh H. Lúc này, anh T1 và anh H chạy vào trong nhà anh T1 đóng cửa lại, còn chị P bỏ chạy ra đường trải nhựa trước nhà anh T1. N đứng trước cửa nhà anh T1 thì anh H nói “Bây giờ tao báo Công an, nhà đây có camera”, N nói “Mầy ra đây, mầy ra đây” nhưng anh T1 và anh H không mở cửa. N nói “Bay sợ chết dữ bay” rồi đi bộ về nhà ở thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
Về vật chứng: Công an xã P, huyện T đã thu giữ tại hiện trường 01 (một) chai nhựa loại 01 (một) lít, màu vàng nâu bị móp méo, chai cao 18,5 cm, đế có hình tròn đường kính 8,5cm, miệng có hình tròn đường kính 2,4cm.
Theo Kết luận giám định số 739/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận thì “Trong vỏ chai nhựa màu vàng nâu, bị móp méo (cao 18,5cm, đường kính đáy chai 8,5cm, đường kính miệng chai 2,4cm, không có nắp đậy) gửi giám định có tìm thấy dấu vết của xăng”.
Về dân sự: Anh Trương Thanh T1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKS-TP ngày 21 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Trần Hồ Quý N về tội “Đe dọa giết người” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hồ Quý N về tội “Đe dọa giết người” theo khoản 1 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hồ Quý N từ 12 đến 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Trong lời nói sau cùng: Bị cáo biết lỗi do hành vi phạm tội của bị cáo đối với bị hại; xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hồ Quý N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 05/4/2024, tại nhà của anh Trương Thanh T1 ở thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, bị cáo Trần Hồ Quý N có hành vi dùng lời nói đe dọa, tạt xăng vào khu vực hè nhà của anh Trương Thanh T1 đe dọa giết anh T1, mục đích đe dọa cho anh T1 sợ vì bực tức việc trước đó anh T1 đánh bị cáo. Bị cáo Trần Hồ Quý N là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức để điều khiển hành vi của mình. Tuy nhiên với ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã đe doạ giết anh T1 bằng xăng làm cho anh T1 bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đe dọa giết người” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe, tính mạng mà còn gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và từng bị xử phạt hành chính về các hành vi “Đánh bạc”, “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xem xét, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo an tâm cải tạo.
[5] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về hình phạt bổ sung:Công việc của bị cáo không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Hồ Quý N phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, anh Lê Ngọc H bị trúng một ít xăng vào áo do bị cáo làm bung nắp chai văng xăng vào, tuy nhiên bị cáo không đe dọa anh H và không làm cho anh H lo sợ về việc bị cáo sẽ được thực hiện hành vi đối với anh, do đó không có căn cứ để xem xem về hành vi của bị cáo đối với anh H.
Lời luận tội của Kiểm sát viên về hành vi và tội danh, về nhân thân và các tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 133; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hồ Quý N phạm tội “Đe dọa giết người”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hồ Quý N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Hồ Quý N phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Tú |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (tội đe dọa giết người)
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tội Đe dọa giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Trần Hồ Quý Nam về tội “Đe dọa giết người” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự.
