Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Tâm - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 73/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024;

Đối với các bị cáo:

  1. Lê Thanh T, sinh ngày 12/8/1987, nơi cư trú: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Ngọc A; con bà Lê Thị L; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai, bị cáo có vợ là Nguyễn Thị P, có 03 con, con lớn 13 tuổi, con nhỏ 06 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Nhân thân: Năm 2012, bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau gây thương tích. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  3. Lê Anh T1, sinh ngày 20/01/1986, nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Ngọc A; con bà Lê Thị L; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con đầu, bị cáo có vợ là Đỗ Thị H, có 02 con, con lớn 13 tuổi, con nhỏ 04 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không;
  4. Nhân thân:

    Năm 2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

    Năm 2012, bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng.

    Năm 2022 bị xử phạt 30 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo đã đi chấp hành án từ ngày 10/4/2023 đến nay.

    Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam T5, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 01/8/2024 được trích xuất bàn giao cho Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Lê Việt Đ, sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà H L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: K chợ Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
  2. Anh Mai Xuân T2, sinh năm 1988, địa chỉ: D, chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Minh D, sinh năm 1991, địa chỉ: A L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1992, địa chỉ: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
  2. Ông Đỗ Văn H1, sinh năm 1961, địa chỉ: Thôn F, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu phố V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1987, địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
  5. Chị Đặng Thị L2, sinh năm 1999, địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 04/11/2017, Mai Xuân T2 (Sinh năm 1988) trú tại số nhà D, ngõ A, đường M, phường Đ, Tp T; Nguyễn Minh D (sinh năm 1991) trú tại số nhà A, đường L, phường Đ, Tp T; Lê Việt Đ (sinh năm 1987) trú tại số nhà E, đường N, phường Đ, Tp T và hai người bạn tên là D và H2 (K) trú tại thành phố T cùng đến quán K1 ở khu B (nay là Khu A) thị trấn T để hát. Sau khi đến quán thì nhóm của T2 được Đỗ Thị H (sinh năm 1992) trú tại Khu A, thị trấn T (là chủ quán) bố trí hát tại Phòng 3, tầng 2 quán K1 và sắp xếp cho Lê Thị N (sinh năm 1995) trú tại xã T, huyện N, Trịnh Thị H2 (Sinh năm 1991) trú tại thôn N, xã T, huyện N và Đặng Thị L2 (sinh năm 1999) trú tại bản Ly 1 + 2, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai để phục vụ. Trong quá trình nhóm của T2 hát tại phòng số 3 thì bị cáo Lê Anh T1 (sinh năm 1986) trú tại Khu A, thị trấn T, huyện T lên phòng chỉnh âm thanh và mic hai lần.

Đến 21 giờ cùng ngày Nguyễn Minh D đi xuống khu vực quầy lễ tân ở tầng 1 để hút thuốc lào, khi đi ngang qua cầu thang thì xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với Nguyễn Xuân L1 (sinh năm 1985) trú tại Khu A, thị trấn T nên L1 và D lao vào dùng tay chân đánh nhau. Lúc này bị can Lê Anh T1 và ông Đỗ Văn H1 (sinh năm 1961) trú tại thôn F, xã X (là bố vợ của T1) đang ở khu vực bàn uống nước và quầy lễ tân thấy vậy nên lao vào can ngăn. T1 dùng tay ôm D thì D vùng vằng đẩy ra rồi dùng tay đấm một cái vào vùng mặt của T1, bị đánh nên T1 cũng dùng tay đấm lại một cái vào người của D. Ngay sau đó D chạy lên khu vực phòng 3, ở tầng 2 để báo cho T2 và nhóm bạn là mình mới bị đánh. Lúc đó T1 cũng cầm theo một con dao (dạng dao nhọn gọt hoa quả dài khoảng 30cm) đi theo D lên cầu thang khu vực tầng 2. Thấy vậy, nhóm Đ và Thảo cầm theo vỏ chai bia T4 và cốc thuỷ tinh cùng với Dương ép T1 xuống khu vực bàn Lễ tân tầng 1 của quán K1. Sau đó nhóm Thảo cầm theo vỏ chai bia, và cốc thuỷ tinh có lời lẽ đe doạ và đẩy dần T1 lùi ra khu vực gần sát cửa kính cường lực (cửa ra vào quán). Tại đây Dương cầm ống điếu cày đánh về phía T1 một cái, thì T1 giơ tay lên đỡ nên chiếc điếu trúng vào tay T1 bị vỡ nát. Ngay sau đó T1 vẫn bị nhóm của T2 đẩy ra khu vực ngoài đường bê tông, ngay trước cửa kính cường lực của quán.

Thấy nhóm T2 hung hăng tập trung định vây đánh T1 nên H dùng số điện thoại 0397.402.xxx gọi đến số điện thoại 0356.888.xxx cho bị cáo Lê Thanh T trú tại khu E, thị trấn T (là em ruột của bị can Lê Anh T1) nói là: “em vào đây đi, bọn nó đang đánh anh T1 ở trên quán”. Nghe H nói như vậy nên T vào nhà lấy một con dao bằng kim loại (dạng dao rựa) dài khoảng 50cm, rồi một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu vàng, Biển kiểm soát 17B1-436.09 đi từ quán K2 ở khu E, thị trấn T đến quán K1 ở Khu A, thị trấn T.

Còn tại quán K1, sau khi nhóm T2 xô đẩy T1 lùi ra khu vực đường bê tông trước cửa kính cường lực của quán, thì nhóm này tiếp tục cầm vỏ chai bia, và cốc thuỷ tinh có những lời lẽ đe doạ, thách thức và dồn ép, lao vào định đánh T1 thì lúc này T1 nhìn thấy Lê Thanh T một mình điều khiển xe máy đi đến trước cửa quán gần vị trí Đ, T2 và T1 đang đứng. T xuống xe, dùng tay phải cầm theo con dao tiến lại và xông vào đánh nhóm của T2, Đ. Cùng lúc đó, D đi từ bên trong quán hướng theo cửa kính ra ngoài đường thì ngay lập tức bị T dùng tay phải cầm dao chém một nhát từ trên xuống, D giơ tay lên đỡ thì bị chém trúng vào mặt trong cẳng tay phải. Bị chém nên D chạy vào vào bên trong quán, còn T1 nhờ đó thoát ra được khỏi nhóm của T2, bỏ chạy ra hướng ngã ba đường L, trong lúc bỏ chạy thì T1 bị nhóm của T2 ném vỏ chai bia theo nên T1 vừa chạy vừa quay đầu lại nhìn thì thấy T đang cầm dao đuổi theo nhóm T2 từ phía sau để đánh tiếp nên T1 tiếp tục chạy về phía trước, còn T2 chạy được khoảng 3-4 mét thì bị T đuổi kịp,T2 vừa quay mặt lại nhìn thì bị T dùng tay phải cầm dao chém một nhát từ phải qua trái trúng vào vùng đỉnh đầu, sau khi bị chém T2 dùng tay ném hai vỏ chai bia theo hướng T và T1 đang chạy nhưng do bị chảy nhiều máu nên T2 dừng lại quay về quán K1. Lúc này Đ và nhóm của Đ vẫn chạy theo T1 còn T cũng đang đuổi theo sau.

Khi đến khu vực ngã ba, Đ đuổi kịp T1 và định dùng tay cầm vỏ chai bia đập về phía T1 nhưng không được, nên cả hai vật nhau tại vị trí này. Đúng lúc đó, T cũng chạy đến nên T1 giật con dao trên tay của T rồi cầm theo dao đuổi theo nhóm Đ chạy quay ngược về hướng quán Bảo Bảo. Trên đường đuổi theo thì T1 dùng tay phải chém một nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng bả vai bên phải của Đ. Sau đó nhóm Đ, T2 chạy vào bên trong quán K1 để trốn thì T1 cầm theo dao vào bên trong quán định chém tiếp thì được anh Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1986) trú tại khu phố V, thị trấn T đang có mặt bên trong quán can ngăn nói là: “Bọn nó bị thương nặng cả rồi, mày muốn chém chết à”, đồng thời anh T3 lao vào ốm lấy T1 đẩy ra bên ngoài đường.

Trước đó T cũng đuổi theo nhóm T2, Đ quay lại hướng quán Bảo Bảo nhưng T không vào bên trong. Sau khi được can ngăn T1 ra ngoài gặp T và nói với T để T1 nhận trách nhiệm hết nên T điều khiển xe máy bỏ đi. Còn T1 một mình cầm theo con dao rựa chạy lên khu vực bờ đê xã X để bỏ trốn và vứt con dao lại ở khu vực này. T2, Đ và D sau đó được người dân đưa đến bệnh viện đa khoa huyện T để điều trị thương tích.

Sau khi sự việc xảy ra Công an Huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ đồ vật liên quan và chứng cứ để làm rõ các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội và xử lý theo quy định của pháp luật.

* Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của các bị hại Mai Xuân T2, Nguyễn Minh D và Lê Việt Đ, xác định được các thương tích sau:

- Mai Xuân T2:

  • + 01vết thương đứt rời mảng da đầu, hở xương sọ tại trán đỉnh đầu, kích thước (8x6)cm, bờ mép vết thương sắc gọn.

-Lê Việt Đ:

  • + 01 vết thương bả vai phải rách da, kích thước dài 1 cm, bờ mép sắc gọn
  • + 01 vết thương tại mặt trước đầu gối chân trái xước da, kích thước (3x5)cm.

-Nguyễn Minh D:

  • + 01 vết sưng nề tại vị trí đỉnh đầu, kích thước (3x2)cm.
  • + 01 vết rách làm mất da, hở xương tại vị trí cạnh cẳng tay phải, kích thước (6x3,5)cm.
  • + 01 vết trầy xước da, són máu, kích thước 12cm, tại vị trí ngực bên phải.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 530/2017/TTPY, ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Nguyễn Minh D bị tổn hại: 10% (Mười phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 526/2017/TTPY, ngày 04 tháng 12 năm 2017 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Đ được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (Điều 4 – Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/06/2014 của Bộ Y) là: 10% (Mười phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 71/2018/TTPY, ngày 12 tháng 02 năm 2018 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của T2 được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (Điều 4– Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/06/2014 của Bộ Y) là: 16% (Mười sáu phần trăm).( BL:86-87,138-139,151-152)

* Quá trình điều tra vụ án, ngày 16/11/2017 Lê Anh T1 đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T xin đầu thú, khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân liên quan đến việc dùng dao chém gây thương tích cho Mai Xuân T2, Nguyễn Ngọc D1 và Lê Việt Đ vào ngày 04/11/2017 tại Khu B, thị trấn T, huyện T.

Ngày 11/12/2017, cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, vụ: Cố ý gây thương tích, xảy ra tại Khu B, thị trấn T, huyện T. Ngày 14/07/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự do chưa xác định được đối tượng gây án.

Ngày 06/05/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với vụ Cố ý gây thương tích, xảy ra tại Khu B, thị trấn T, huyện T.

Ngày 27/5/2024, Lê Thanh T ra đầu thú tại Công an huyện T khai báo về hành vi phạm tội của mình và Lê Anh T1.

Tại cơ quan điều tra Lê ThanhTùng, Lê Anh T1 đã khai nhận hành gây thương tích cho anh T2, anh D1 và anh Đ phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu được có trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Sau khi xảy ra vụ án các bị hại đều được được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ cấp cứu điều trị sau đó T2 được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T và Bệnh viện V điều trị, sau đó bệnh ổn định xuất viện về nhà. Quá trình giải quyết vụ án đến nay gia đình T và T1 đã bồi thường cho bị hại Mai Xuân T2 số tiền là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng); Bồi thường cho Lê Việt Đ số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); Bồi thường cho Nguyễn Minh D số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Anh T2, anh Đ và anh D không có yêu cầu gì khác.

*Đối với Lê Anh T1 cũng bị một số thương tích trong quá trình xô xát với nhóm của T2 nhưng do thương tích nhẹ và đã khỏi nên T1 không yêu cầu giám định và bồi thường.

*Về vật chứng và các đồ vật đã thu giữ gồm: Một số mảnh nứa dạng ống điếu hút thuốc lào, kích thước dài 57cm; 01 (Một) vỏ bao gỗ dạng dao, kích thước dài 58cm, rộng nhất 8,5cm, dày 1,5cm được tết buộc các sợi dây gỗ bên ngoài, độ rộng nhất phía trong là 0,6cm; 01 (một) đôi dép xỏ ngón màu đỏ; Một số mảnh vỡ vỏ chai thuỷ tinh màu xanh, nhãn hiệu TUBORG. Hiện đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

Đối với vật chứng là con dao T1 và T dùng gây án Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSTX ngày 12/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Các bị cáo Lê Thanh T và Lê Anh T1 về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh T và Lê Anh T1 phạm tội “cố ý gây thương tích”;

Về hình phạt đề nghị:

- Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Thanh T và Lê Anh T1. Riêng bị cáo T1 áp dụng thêm khoản 1 Điều 55 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

+ Xử phạt bị cáo Lê Anh T1 từ 13 (mười ba) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, tổng hợp tổng hợp với hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù của bản án số: 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là từ 43 (bốn mươi ba) tháng tù đến 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2024, được trừ thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của bản án số: 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa từ ngày 10/4/2023 đến 30/9/2024 và thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2021 đến ngày 31/12/2021 theo bản án số: 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: Một số mảnh nứa dạng ống điếu hút thuốc lào, kích thước dài 57cm, 01 (một) vỏ bao gỗ dạng dao, kích thước dài 58cm, rộng nhất 8,5cm, dày 1,5cm được tết buộc các sợi dây gỗ bên ngoài, độ rộng nhất phía trong là 0,6cm, 01 (một) đôi dép xỏ ngón màu đỏ, một số mảnh vỡ vỏ chai thuỷ tinh màu xanh, nhãn hiệu TUBORG.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 04/11/2018, Lê Thanh T và Lê Anh T1 đã dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém gây thương tích cho anh M XuânThảo, anh Nguyễn Minh D và anh Lê Việt Đ, trong đó T gây thương tích cho T2 16%, gây thương tích cho D 10%; T1 gây thương tích cho Đ 10% sức khỏe. Trong vụ án này Lê Thanh T và Lê Anh T1 đã tiếp nhận ý chí của nhau, nhìn thấy hành vi của nhau và cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cả hai bị cáo phải chịu chung trách nhiệm hình sự đối với thương tích của cả 03 bị hại là T2, D và Đ.

Tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”

Tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội quy định: “1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:

b) Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

Do đó Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Bộ luật hình sự 2015 để xét xử đối với các bị cáo.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ cấu thành tội “cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Xuất phát từ việc bị cáo T1 trong quá trình can ngăn ẩu đả, bị bị hại là anh D tấn công trước và bị cáo T khi thấy anh ruột mình đang bị nhóm bị hại tấn công, do không kìm chế được bản thân nên các bị cáo đã dùng hung khí gây thương tích cho người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo chỉ là bột phát nên không xem là phạm tội có tổ chức. Xét vai trò, tính chất và mức độ của từng bị cáo khi thực hiện hành vi để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo T là người thực hành tích cực nhất, trực tiếp gây thương tích cho hai người, nên xếp vai trò thứ nhất và phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T1.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu. Đối với bị cáo T1, hiện đang chấp hành hình phạt tù của bản án số 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa do hành vi bị cáo đã thực hiện vào ngày 27/8/2021 (tức là sau ngày phạm tội lần này), vì vậy xác định đây chỉ là tình tiết thuộc về nhân thân của bị cáo chứ không phải tiền án. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú, quá trình sinh sống tại địa phương các bị cáo đã tích cực chung tay cùng cộng đồng đóng góp quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt, bên cạnh đó sự việc xảy ra cũng do có một phần lỗi của các bị hại. Vì vậy nên xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, tội phạm lần này các bị cáo thực hiện là loại tội phạm có tính chất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc và cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo T1 đang chấp hành hình phạt tù của một bản án, nay lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này. Vì vậy bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 55 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bị hại là Mai Xuân T2, Lê Việt Đ, Mai Xuân D2 và các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, không ai có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với Một số mảnh nứa dạng ống điếu hút thuốc lào, kích thước dài 57cm, 01 (một) vỏ bao gỗ dạng dao, kích thước dài 58cm, rộng nhất 8,5cm, dày 1,5cm được tết buộc các sợi dây gỗ bên ngoài, độ rộng nhất phía trong là 0,6cm, 01 (một) đôi dép xỏ ngón màu đỏ, một số mảnh vỡ vỏ chai thuỷ tinh màu xanh, nhãn hiệu TUBORG, đây xác định là công cụ hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về các tình tiết khác liên quan đến vụ án:

Đối với Nguyễn Xuân L1, Nguyễn Minh D: Đã có hành vi dùng tay đấm nhau vào tối ngày 04/11/2017, tuy nhiên không ai bị thương tích, cũng không có yêu cầu đề nghị gì. Do đó Nguyễn Minh D và Nguyễn Xuân L1 không cấu thành tội phạm.

Đối với Mai Xuân T2 và Lê Việt Đ: Ngày 04/11/2017 đã có hành vi chửi bới, cầm theo vỏ chai bia, cốc thủy tinh ném nhau tại đoạn đường bê tông tại Khu A, thị trấn T, huyện T. Tuy nhiên, hành vi của Mai Xuân T2 và Lê Việt Đ không gây ra hậu quả nghiêm trọng, do đó không cấu thành tội phạm.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 đối với các bị cáo Lê Thanh T và Lê Anh T1. Riêng bị cáo T1 áp dụng thêm khoản 1 Điều 55 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh T và Lê Anh T1 phạm tội “cố ý gây thương tích”;

- Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Lê Anh T1 14 ( mười bốn) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù của bản án số: 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 44 (bốn mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2024, được trừ thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của bản án số: 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa từ ngày 10/4/2023 đến 30/9/2024 và thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2021 đến ngày 31/12/2021 theo bản án số: 166/2022/HS – ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng gồm: Một số mảnh nứa dạng ống điếu hút thuốc lào, kích thước dài 57cm; 01 (một) vỏ bao gỗ dạng dao, kích thước dài 58cm, rộng nhất 8,5cm, dày 1,5cm được tết buộc các sợi dây gỗ bên ngoài, độ rộng nhất phía trong là 0,6cm; 01 (một) đôi dép xỏ ngón màu đỏ; một số mảnh vỡ vỏ chai thuỷ tinh màu xanh, nhãn hiệu TUBORG.

Toàn bộ vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 81 ngày 20/9/2024.

4. Về án phí: Các bị cáo Lê Thanh T và Lê Anh T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sfsf
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger