Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm
Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Chu Quốc Đạt
  2. Ông Trần Thành Đô

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Tuấn - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 242/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lâm Thị L, sinh năm 1993 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Vi Văn T, sinh năm 1988 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
(Chị L, anh T vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lâm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vi Văn T trước khi đăng ký kết hôn được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 16/02/2011. Vợ chồng chị được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Sau khi kết hôn chị về nhà anh T làm dâu và chung sống cùng gia đình nhà chồng được 02 năm sau đó được ra ở riêng. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ năm 2017, sau khi sinh con thứ 2 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T đi uống rượu say, về nhà gây chuyện và vợ chồng xảy ra xô xát đánh nhau. Từ năm 2022, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng tuy sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau. Nay bản thân chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vi Văn T.

- Về con chung: Giữa chị và anh T có 02 con chung là Vi Văn L1, sinh ngày 19/11/2011 và Vi Thị Tú L2, sinh ngày 13/10/2017. Khi ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giao con chung Vi Thị Tú L2, sinh ngày 13/10/2017 cho chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung Vi Văn L1, sinh ngày 19/11/2011 cho anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về tài sản chung, công nợ chung chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do bận công việc nên chị L từ chối hòa giải và xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Bị đơn anh Vi Văn T trình bày tại bản tự khai ngày 26/8/2024 như sau: Anh T xác định về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn như chị L trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh T xác định từ năm 2022, chị L đi làm ở Công ty S dưới Bắc Ninh cuối tuần mới về nhà, khi về nhà thì vợ chồng bất đồng quan điểm, chị L tìm cớ gây hấn, sinh sự dẫn đến xô xát nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay, mặc dù 4,5 ngày chị L về nhà thăm con một lần nhưng vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L làm đơn xin ly hôn thì anh T đồng ý ly hôn chị L.

Về con chung: Anh T xác định vợ chồng có 02 con chung là Vi Văn L1, sinh ngày 19/11/2011 và Vi Thị Tú L2, sinh ngày 13/10/2017. Khi ly hôn anh T có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung Vi Văn L1 và Vi Thị Tú L2. Trường hợp chị L kiên quyết xin nuôi cháu Vi Thị Tú L2 thì anh T đồng ý để chị L nuôi cháu L2 và anh đồng ý nuôi dưỡng cháu Vi Văn L1. Về cấp dưỡng nuôi con anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do tôi bận công việc nên anh T đề nghị Tòa án cho anh vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành ghi lời khai của các con chung của chị L và anh T, cháu Vi Văn L1 trình bày nguyện vọng muốn ở cùng bố là anh Vi Văn T, cháu Vi Thị Tú L2 trình bày nguyện vọng muốn ở cùng mẹ là chị Lâm Thị L.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, không mở phiên họp hòa giải do chị L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết vụ án.

* Tại phiên toà, nguyên đơn chị Lâm Thị L và bị đơn anh Vi Văn T vắng mặt và đều có ý kiến xxin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo thực hiện nghiêm túc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, kiểm sát viên đã phân tích đánh giá thực trạng mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã trầm trọng, kéo dài, cả chị L và anh T đều đồng ý ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 328, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử cho chị L và anh T được ly hôn. Về con chung, xét yêu cầu của chị L, ý kiến của anh T và nguyện vọng của 02 con chung, đề nghị HĐXX giao con chung Vi Thị Tú L2, sinh ngày 13/10/2017 cho chị L và giao con chung Vi Tú L3, sinh ngày 19/11/2011 cho anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử xét (HĐXX) nhận định:

[1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện của chị Lâm Thị L cùng các tài liệu nộp theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức, nội dung đơn khởi kiện. Bị đơn anh Vi Văn T hiện nay đang cư trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó xác định đây là tranh chấp hôn nhân gia đình cụ thể là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lâm Thị L và bị đơn anh Vi Văn T vắng mặt tại phiên toà và đều xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn được UBND xã H, huyện L cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/02/2011 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Cả chị L và anh T đều xác định trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, thời gian mâu thuẫn từ năm 2022, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, chị L khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án anh T có bản tự khai thể hiện quan điểm đồng ý ly hôn chị L. Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng sống chung thủy, yêu thương tôn trọng lẫn nhau, tạo điều kiện để cho nhau phát triển về mọi mặt, nhưng hôn nhân của chị L và anh T không đạt được mục đích đó. Anh chị mặc dù sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm tới nhau khiến tình cảm vợ chồng bị xa cách, không có khả năng đoàn tụ. Chị L xin ly hôn, anh T đồng ý ly hôn. Do đó HĐXX yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Xét về con chung: Giữa chị L và anh T có 02 con chung là Vi Văn L1, sinh ngày 19/11/2011 và Vi Thị Tú L2, sinh ngày 13/10/2017. Khi ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giao con chung Vi Thị Tú L2, sinh ngày 13/10/2017 cho chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung Vi Văn L1, sinh ngày 19/11/2011 cho anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

HĐXX xét thấy, anh T đồng ý với yêu cầu giải quyết về con theo yêu cầu của chị L. Mặt khác qua ghi lời khai cháu L1 có nguyện vọng ở cùng anh T, cháu L2 có nguyện vọng được ở cùng chị L. Do vậy Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao chái Vi Thị Tú L2 cho chị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Vi Văn L1 cho anh T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Chị L, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[6]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lâm Thị L phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8]. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Cặc cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lâm Thị L và anh Vi Văn T ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lâm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vi Thị Tú L2, sinh ngày 13/10/2017; giao cho anh Vi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vi Văn L1, sinh ngày 19/11/2011.

Chị L, anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L, anh T thực hiện quyền này.

Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

  1. Án phí sơ thẩm: Chị Lâm Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007723 ngày 31/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị L đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Chị L, anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Hương Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Thiêm

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Văn La + Đồng Văn Diện

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Liên - anh Thao
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger