|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/DS-ST
Ngày 25 tháng 9 năm 2024
V/V: "Kiện đòi tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Môn.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2024/TLST-DS ngày 25/6/2024 về “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-DS ngày 23/08/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn C, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Ông S có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn N, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Bà B xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 Địa chỉ: Thôn C, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Bà T xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần Thành S1 trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị B có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội (bà B có 1 xưởng may gia công gần nhà ông nên ông biết bà B). Ông có cho bà B vay tổng số tiền 490.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Lần 1 ngày 22/6/2012, ông cho bà B vay 120.000.000 đồng.
- Lần 2 ngày 21/7/2012, ông cho bà B vay 120.000.000 đồng.
- Lần 3 ngày 16/11/2012, ông cho bà B vay 100.000.000 đồng.
- Lần 4 ngày 18/12/2012, ông cho bà B vay 150.000.000 đồng.
Mỗi khi vay tiền, bà B đều viết cho ông một giấy vay tiền viết tay. Bà B nói mục đích vay tiền là để đầu tư kinh doanh. Ông cho bà B vay tiền đều là đưa tiền mặt.
Đến đầu năm 2013, ông có yêu cầu bà B trả các khoản nợ nhưng bà B không trả nên ông đã yêu cầu bà B viết giấy chốt nợ cho ông. Bà B viết cho ông một giấy chốt nợ, là giấy ra hạn nợ tiền đề ngày 05/01/2013 mà ông cung cấp cho Toà án. Trong giấy không ghi rõ về thời hạn vay cũng không ghi gì về tiền lãi.
Ông đã đòi nhiều lần nhưng bà B không trả tiền. Nguồn gốc số tiền này là tiền của vợ chồng ông. Vợ chồng ông thống nhất một mình ông khởi kiện và đề nghị Toà án tuyên bà B trả tiền cho vợ chồng ông. Ông yêu cầu Toà án buộc bà B phải trả số tiền 490.000.000 đồng theo giấy gia hạn nợ tiền ngày 05/01/2013.
Bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà có vay của vợ chồng ông S1 4 lần, cộng tất cả là 490.000.000 đồng để làm đường bê tông vào đồng rau sạch. Khi vay bà có viết giấy vay nhưng phần lãi thì thỏa thuận ngoài là 3.500đ/1 triệu/1 ngày. Bà đã trả được số tiền lãi là 136.200.000 đồng với 08 lần trả lãi do ông S1 và bà T đã ký nhận. Sau đó, bà bị tai nạn xe máy, bị vỡ đốt sống phải mổ đóng nẹp ở viện A, phải điều trị dài ngày rồi dẫn đến vỡ nợ không trả được nợ cho vợ chồng ông S1.
Bà nộp các giấy tờ cho Tòa là để chứng minh việc vay tính lãi quá cao mà bà không trả được khi đã bị vỡ nợ. Ông S1 cứ 10 ngày lại cộng lãi vào gốc rồi lại nhân tiếp dẫn đến số tiền bà vay từ 490.000.000 đồng chưa đầy 01 năm lên tới 935.546.000 đồng; Nay ông S1 kiện đòi bà 490.000.000 đồng thì bà đề nghị ông S1 trừ đi 136.200.000 đồng mà bà đã trả, còn lại 353.800.000 đồng thì bà sẽ nhận nợ với vợ chồng ông S1.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà nhất trí với trình bày của ông S1 chồng bà tại Toà án, nhất trí yêu cầu khởi kiện của ông S1 về yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả lại số tiền 490.000.000 đồng tại giấy gia hạn nợ tiền đề ngày 05/01/2013.
Nguồn gốc số tiền 490.000.000 đồng ông S1 khởi kiện yêu cầu bà B trả là tiền của vợ chồng bà. Vợ chồng bà thống nhất một mình chồng bà ông S1 khởi kiện và đề nghị Toà án tuyên bà B trả tiền cho vợ chồng bà.
- * Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
- * Ngày 26/08/2024, Tòa án đã chuyển toàn bộ các Giấy biên nhận vay tiền mà bà B nộp đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B để đề nghị hành vi của ông Trần Thanh S có dấu hiệu của tội phạm hình sự.
- * Tại phiên tòa ngày 09/09/2024, do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án quyết định hoãn phiên tòa.
- * Ngày 19/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B có văn bản trả lời với nội dung như sau: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B nhận được Công văn số 939/TA đề ngày 26 tháng 8 năm 2024 kèm theo các tài liệu có liên quan của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang về việc đề nghị Công an thành phố B xem xét hành vi của ông Trần Thanh S có dấu hiệu của tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Qua nghiên cứu tài liệu của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thấy: Trong khoảng thời gian từ ngày 22/06/2012 đến ngày 05/7/2013, bà B viết nhiều giấy vay tiền, giấy biên nhận vay tiền và giấy ra hạn vay tiền để vay tiền của ông S. Trong các giấy vay tiền, giấy biên nhận vay tiền và giấy ra hạn vay tiền đều không thể hiện nội dung thỏa thuận về tiền lãi. Đối với các tài liệu bà B giao nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, có một số tài liệu thể hiện ông S cho bà B vay tiền với mức lãi suất là 3.500 đồng/1 triệu/1 ngày. Quan điểm của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B như sau: Thứ nhất: Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 27 Bộ luật hình sự xác định nội dung bà B cung cấp tài liệu và trình bày ông S có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thứ hai: Tại thời điểm bà B vay tiền của ông S với mức lãi suất là 3.500 đồng/1 triệu/1 ngày. Căn cứ Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì hành vi của ông S không cấu thành tội “Cho vay lãi nặng”.
Tại phiên tòa hôm nay:
- * Bị đơn bà Nguyễn Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T xin vắng mặt.
- * Nguyên đơn ông Trần Thanh S trình bày: Ông đã được xem các giấy biên nhận trả tiền do bà B nộp, ông xác nhận các biên nhận đó đúng là chữ ký và chữ viết của ông và vợ ông bà T. Bà B trình bày đã trả vợ chồng ông 136.200.000 đồng nhưng theo như ông tính toán trên các giấy giấy biên nhận trả tiền do bà B nộp, bà B đã trả được cho vợ chồng ông 150.200.000 đồng. Ông đồng ý đối trừ số tiền 150.200.000 đồng này vào khoản tiền gốc 490.000.000 đồng mà ông khởi kiện bà B. Do vậy, ông xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án buộc bà B phải trả số tiền gốc 339.800.000 đồng.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà B phải trả số tiền 339.800.000 đồng. Bà B được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà B, bà T là đảm bảo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2]. Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn ông S yêu cầu bị đơn bà B trả số tiền 490.000.000 đồng theo giấy gia hạn nợ tiền ngày 05/01/2013. Tại phiên toà, nguyên đơn ông S thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà B phải trả số tiền gốc 339.800.000 đồng. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông S không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên cần chấp nhận.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông S trình bày từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2012 có cho bà B vay tổng số tiền 490.000.000 đồng, cụ thể như sau: Lần 1 ngày 22/6/2012, ông cho bà B vay 120.000.000 đồng; Lần 2 ngày 21/7/2012, ông cho bà B vay 120.000.000 đồng; Lần 3 ngày 16/11/2012, ông cho bà B vay 100.000.000 đồng; Lần 4 ngày 18/12/2012, ông cho bà B vay 150.000.000 đồng. Bà B thừa nhận có vay ông S tổng số tiền 490.000.000 đồng, đã trả vợ chồng ông S 136.200.000 đồng. Ông S thừa nhận các giấy biên nhận trả tiền do bà B nộp đúng là chữ ký và chữ viết của ông và vợ ông bà T nhưng theo như ông tính toán trên các giấy giấy biên nhận thì bà B đã trả được cho vợ chồng ông 150.200.000 đồng nên yêu cầu Toà án buộc bà B phải trả số tiền gốc 339.800.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2011, yêu cầu khởi kiện của ông S là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[4] Về ý kiến của bà B về việc ông S cho bà vay lãi cao: Ngày 26/08/2024, Tòa án đã chuyển toàn bộ các Giấy biên nhận vay tiền mà bà B nộp đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B để xem xét hành vi của ông Trần Thanh S có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Ngày 19/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B có văn bản trả lời với nội dung: Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 27 Bộ luật hình sự xác định nội dung bà B cung cấp tài liệu và trình bày ông S có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại thời điểm bà B vay tiền của ông S với mức lãi suất là 3.500 đồng/1 triệu/1 ngày. Căn cứ Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì hành vi của ông T1 không cấu thành tội “Cho vay lãi nặng”.
[5] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền 339.800.000 đồng được chấp nhận nên bị đơn bà B phải chịu án phí theo dân sự sơ thẩm nhưng do bị đơn là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Hoàn trả ông S số tiền tạm ứng án phí dân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2011;
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Trần Thanh S: buộc bà Nguyễn Thị B trả ông Trần Thanh S và bà Nguyễn Thị T số tiền 339.800.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Trần Thanh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.800.000 đồng theo biên lai số 0001867 ngày 25/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 72/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 72/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh S - Nguyễn Thị B kiện đòi tài sản
