Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Đặng Văn Thuận
  2. Bà: Trương Thị Hồng Xuân

Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đình T; Sinh ngày: 27/01/1999, Tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, T, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình H - Sinh năm: 1957; Con bà: Cao Thị H1 - Sinh năm: 1967; Tiền án: Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 08/7/2020 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 12/01/2021 bị tòa án nhân dân Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản, chấp hành án xong ngày 04/9/2022; Ngày 07/6/2023 Bị Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Tp. áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/7/2024 đến đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T chờ xử lý. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

* Bị hại:

Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 2000(có mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

1. Ông Lê Văn T1, sinh năm: 1987(vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mối quan hệ quen biết với anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2000, trú tại thôn Q, xã T, T, Thanh Hóa nên khoảng 13 giờ ngày 02/8/2020, Nguyễn Đình T, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đi một mình đến nhà trọ của ông Lê Văn N1, thuộc Đội 1 Nông trường T, xã T, huyện T đang cho anh N thuê để đi chơi. Tại nhà trọ, T thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen, bạc, cũ, không gắn biển kiểm soát của anh Nguyễn Văn N đang để ở sân của nhà trọ, anh N đang nằm ngủ một mình trong nhà, xung quanh nhà không có ai, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. T biết vị trí để chìa khóa xe nên đã lén lút vào nhà, lấy chìa khóa xe, điều khiển xe mô tô nói trên ra đường M, đi dọc từ huyện T sang huyện C đi tìm chỗ tiêu thụ xe. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe đi đến một quán bia ở thị trấn P, huyện C, Thanh Hóa thì gặp anh Lê Văn T1, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã C, huyện C đang uống bia ở quán. T nói chuyện với anh T1 và biết anh T1 làm nghề sửa xe ở xã C, biết có thể bán xe cho anh T1, T đã nói với anh T1 xe mô tô này là của T đang bị mất biển số và làm lại giấy tờ, hiện tại T đang cần tiền để đi miền nam có việc gấp. T hỏi vay anh T1 1.500.000 đ, để lại chiếc xe mô tô của T để làm tin, vài ngày sau T sẽ mang tiền đến chuộc xe về. Anh T1 tin tưởng và đồng ý đưa cho T 1.500.000 đ tiền mặt, T đưa chìa khóa xe mô tô cho anh T1, để lại xe mô tô rồi bỏ đi. T đã sử dụng số tiền lấy của anh T1 bắt xe khách đi vào thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng chơi, chi tiêu hết số tiền, sau đó T lang thang đi làm ăn, sinh sống ở nhiều nơi, không liên lạc với người thân, bạn bè, không trở về địa phương nên không ai biết T đi đâu làm gì.

Anh N sau khi ngủ dậy phát hiện chiếc xe mô tô của mình bị mất, đã đi tìm xe ở nhiều nơi. Đến chiều ngày 17/8/2020 có bạn bè của anh N báo thấy chiếc xe mô tô ở xã C, huyện C nên anh N đã đến Công an huyện T trình báo vụ việc, đề nghị Công an huyện T lấy chiếc xe mô tô về cho anh và xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận, tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen, bạc, cũ, không gắn biển kiểm soát (BKS 36H7-025-76) có giá trị 7.000.000 đ (bảy triệu đồng chẵn).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T sau khi nhận được đơn trình báo của anh Nguyễn Văn N đã tiến hành điều tra vụ việc theo quy định. Do chưa xác định được bị cáo trong vụ án nên Cơ quan CSĐT công an huyện T đã ra quyết định Tạm đình chỉ vụ án. Đến ngày 28/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T xác định được đối tượng Nguyễn Đình T đang bị bắt buộc cai nghiện tại Trung tâm C, huyện S, Hà Nội, nên đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án và tiến hành làm việc với đối tượng Nguyễn Đình T.

Kết quả xác minh điều kiện kinh tế, thu nhập của bị cáo Nguyễn Đình T xác định T hiện tại không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản chung, tài sản riêng.

Đối với anh Lê Văn T1, là người đã cho T vay số tiền 1.500.000 đ và nhận chiếc xe mô tô mà T giao để làm tin; Quá trình điều tra xác định anh T1 không biết chiếc xe mô tô trên là tài sản do T trộm cắp mà có. Do tin tưởng thông tin của T nên anh T1 đã đồng ý cho T vay tiền và giữ xe của T để làm tin. Sau khi biết chiếc xe mô tô trên do T trộm cắp được mà có, anh T1 đã tự nguyện giao nộp tài sản cho cơ quan CSĐT Công an huyện T và phối hợp xác minh, làm rõ hành vi phạm tội của T nên hành vi của anh T1 không cấu thành tội phạm.

Về trách nhiệm dân sự:Quá trình điều tra người bị hại Nguyễn Văn N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đ bị cáo đã vay của anh T1; bố của bị cáo là ông Nguyễn Đình H đã tự nguyện bồi thường cho anh T1 nên anh T1 không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thêm gì khác. Ông H cũng không yêu cầu bị cáo T phải trả lại số tiền ông H bồi thường cho anh T1.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ:

01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen, bạc, cũ, không gắn biển kiểm soát. Sau khi tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc điều tra xác định vụ việc nên Cơ quan CSĐT công an huyện T đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn N.

*Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSTT ngày 11/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

*Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Nguyễn Đình T mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 31/7/2024. Không đề nghị xử phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Cáo trạng mô tả hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp với diễn biến sự việc. Về phần dân sự bị cáo có tác động nhờ gia đình bồi thường cho anh T1. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về phần hình phạt người bị hại đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên vào khoảng 13 giờ ngày 02/8/2020 tại Đội 1 Nông trường T, xã T, huyện T Thanh Hóa, lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu, Nguyễn Đình T đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen, bạc, cũ, không gắn biển kiểm soát trị giá 7.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn N sau đó mang đi tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài cá nhân, sau đó T không quay về địa phương mà lang thang ở nhiều nơi, không liên lạc về gia đình và thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu ngoài lần phạm tội này bị cáo còn bị xét xử về tội cùng loại, thể hiện sự coi thường pháp luật do đó cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cũng như phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ là: “Người thân tự bồi thường khắc phục hậu quả” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm b, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mà hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo để sớm trở về làm một công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xác minh về điều kiện tài sản xác định bị cáo hiện không có tài sản và thu nhập đáng kể gì. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra người bị hại Nguyễn Văn N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đ bị cáo đã vay của anh T1; bố của bị cáo là ông Nguyễn Đình H đã tự nguyện bồi thường cho anh T1 nên anh T1 không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thêm gì khác. Ông H cũng không yêu cầu bị cáo T phải trả lại số tiền ông H bồi thường cho anh T1 nên hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu đen, bạc, cũ, không gắn biển kiểm soát. Sau khi tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc điều tra xác định vụ việc nên Cơ quan CSĐT công an huyện T đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn N là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

-Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (31/7/2024).

-Áp dụng: Điều 106 BLTTHS; Điều 136 của BLTTHS năm 2015; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về dân sự: Công nhận phần dân sự đã giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Văn Thuận Lê Văn Quân
Ngô Thị Ân

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thạch Thành;
  • - Đội THAHS công an Thạch Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Tuấn - Trộm cắp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger