Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 9 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Dương Thắng

Ông Lê Văn Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm - Kiêm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc M, sinh năm 1983

    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, nhưng bà M có đơn xin xét xử vắng mặt).

  • - Bị đơn: Ông Lý Hoàng V, sinh năm 1979

    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 4 năm 2024 của nguyên đơn là bà Huỳnh Ngọc M và một số lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại Đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn đều trình bày:

Nguyên đơn là bà Huỳnh Ngọc M và bị đơn là ông Lý Hoàng V sống chung với nhau vào đầu năm 2015 và có chung với nhau một người con chung là cháu Huỳnh Hoàng D, sinh ngày 22/02/2016 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vì vậy, tại Giấy khai sinh của cháu D không có họ và tên cha. Đến năm 2022 bà và ông V mới đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 29/9/2022. Hiện tại con chung đang ở với bà tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do đôi bên không còn tình cảm với nhau và cuộc sống không hoà hợp như xưa, bất đồng ý kiến, không thấu hiểu và không thông cảm cho nhau, ông V suốt ngày cứ cằn nhằn, lại phân biệt những vấn đề về con cái làm cho các thành viên trong gia đình trở nên căng thẳng và áp lực về tinh thần nhiều lúc cuộc sống có nhiều khó khăn, từ đó ông bà thường xuyên cãi nhau và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.

Nguyên đơn Huỳnh Ngọc M yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn M yêu cầu được ly hôn với ông Lý Hoàng V.

Về con chung: Bà và ông Vũ S chung từ năm 2015 và đến năm 2016 thì sinh cháu D, do chưa đăng ký kết hôn với ông V. Vì vậy, bà tự đi khai sinh cho cháu D và lấy họ mẹ. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Hoàng D, sinh ngày 22/02/2016 đến tuổi trường thành và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lý Hoàng V: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của bà Huỳnh Ngọc M tại Thông báo thụ lý vụ án số: 152/TB-TLVA, ngày 21 tháng 6 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho ông V, cũng như đã triệu tập hợp lệ ông Lý Hoàng V đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần và Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông. Nhưng ông V không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà M và cũng không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, Tòa án cũng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông V cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn là bà Huỳnh Ngọc M thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn là ông Lý Hoàng V vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Ngọc M, về việc yêu cầu xin ly hôn với ông Lý Hoàng V và yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Huỳnh Hoàng D, sinh ngày 22/02/2016 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nhận thấy các yêu cầu nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, về tài sản chung và nợ chung bà M tự trình bày không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  1. [1] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 10 tháng 6 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Ngọc M lập ngày 08 tháng 4 năm 2024 cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn M nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 08 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung khi ly hôn với bị đơn là ông Lý Hoàng V, sinh năm 1979 có địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
  3. [3] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn V vẫn vắng mặt không rõ lý do, tiêng nguyên đơn M vắng mặt, nhưng bà M có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn M và bị đơn V theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

  1. [4] Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trằn cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 29/9/2022, nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông V là hợp pháp. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, bà M có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông V.
  2. [5] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà M, Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi kết hôn, bà M và ông V cũng có thời gian dài chung sống hạnh phúc bên nhau từ năm 2016 đến tháng 4/2024. Tuy nhiên, từ đầu tháng 4/2024, hai người bắt đầu phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mỗi lần cải vã, không có tiếng nói chung không còn hợp nhau, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều không thể hàn gắn được và bà M kiên quyết ly hôn với bị đơn vì không còn tình cảm yêu thương bị đơn V. Như vậy, bà M và ông V đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, đó là không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà M là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà M ly hôn với ông V.
  3. [6] Về con chung: Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Hoàng D, sinh ngày 22/02/2016 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy, tại giấy khai sinh số 36/2016 được Ủy ban nhân dân xã T cấp vào ngày 07/3/2016 cho cháu Huỳnh Hoàng D, sinh ngày 22/02/2016 tại mục: “ Họ, chữ đệm, tên người cha” không có họ và tên bị đơn Lý Hoàng V, quá trình giải quyết vụ án cháu D và bà M đều trình bày ông V là cha ruột của cháu D. Tuy nhiên, từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay Tòa án không nhận được bất cứ văn bản, ý kiến của ông V đối với việc cháu D không phải là con của ông. Bên cạnh đó, từ khi bà M và ông V sống ly thân cho đến nay cháu D đều do bà M trực tiếp chăm sóc, chi phí ăn, học đều được bà M chăm lo cho cháu đầy đủ và đối với yêu cầu của bà M về trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và bị đơn V không có ý kiến hoặc bất cứ văn bản gì đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu D của nguyên đơn M. Đồng thời tại biên bản ghi nhận ý kiến của D thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” chấp nhận yêu cầu của bà M giao cháu D cho bà M được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi.
  4. [7] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, ông V là người không trực tiếp nuôi cháu D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D, nhưng bà M không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi cháu D. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  5. [8] Ngoài ra, Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 còn quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Như vậy, ông V là người không trực tiếp nuôi con nên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  6. [9] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Ngọc M tự khai không có, nên Hội đông xét xử không đặt ra xem xét.
  7. [10] Từ những phân tích trên, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
  8. [11] Về án phí sơ thẩm: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 3 Điều 235 và Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Ngọc M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Ngọc M và ông Lý Hoàng V.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Giao con chung tên Huỳnh Hoàng D (nam, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2016) hiện đang sống chung với bà M cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề này ra để xem xét.
    3. Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở ông V thực hiện quyền này, theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà M tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà M phải chịu là 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005092 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Bà M đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;

  • - VKSND H. Châu Thành, TST;

  • - Các đương sự;

  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;

  • - UBND xã Thuận Hòa, H. Châu Thành, TST;

  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Kim Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án nguyên đơn Huỳnh Ngọc M và bị đơn Lý Hoàng V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger