Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI LỘC

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

-------------------------

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 20-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Trần Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trung Dũng. Nghề nghiệp: Cán bộ.
  2. Bà Lê Thị Hồng. Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Xuân Giáp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc;

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự, thụ lý số: 71/2024/HSST, ngày 09/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS, ngày 10/9/23024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Trung K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/12/2009, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1987, con bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm 1988; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn Hoàng A, tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/12/2009, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, con bà: Lê Thị H1- Sinh năm 1988; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trung K: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 và chị Lê Thị H1, sinh năm 1988; Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Văn K1 – Luật sư Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Chị Ngô Thị V, sinh năm 1977; Địa chỉ: xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Duy H3, sinh năm 1980; Địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  3. Chị Đặng Thị Q, sinh năm 1971; Địa chỉ: xóm K, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  4. Cháu Phạm Quỳnh A1, sinh ngày 06/03/2015. Vắng mặt.

Người giám hộ của cháu Quỳnh A1: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1981

  1. Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1981; Địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Chị Trần Thị V1, sinh năm 1983; Địa chỉ: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1975; Địa chỉ: xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  3. Bà Võ Thị L, sinh năm 1961; Địa chỉ: thôn C xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An: Chị Nguyễn Thị L1- Bí thư đoàn xã. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  • + Đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An: Anh Nguyễn Văn H4- Bí thư đoàn xã. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào thời điểm đêm khuya, Nguyễn Văn Hoàng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn Đỏ Đen Bạc (không gắn biển kiểm soát) chở theo Nguyễn Trung K ngồi phía sau mang theo 01 con dao nhọn bằng kim loại (dài khoảng 40 cm, cán bằng gỗ) lưu thông trên các tuyến đường để chặn xe, dùng dao dí vào cổ uy hiếp người đi đường và cướp tài sản. Với phương thức, thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ ngày 01/6/2024 đến ngày 04/6/2024, Hoàng A và K đã thực hiện 05 hành vi cướp tài sản trên địa bàn xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, cụ thể:

Hành vi thứ 1: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 01/6/2024, Nguyễn Văn Hoàng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn Đỏ Đen Bạc (không gắn biển kiểm soát), chở theo Nguyễn Trung K ngồi phía sau lưu thông trên các tuyến đường để cướp tài sản. Khi đi đến đoạn đường gần nhà máy N2 thuộc địa phận xóm T, xã N, huyện N, cả hai người phát hiện thấy chị Ngô Thị V (sinh năm 1977, trú tại xóm C, xã N, huyện N) đang đi xe mô tô cùng chiều. Hoàng A điều khiển xe đi từ phía sau áp sát rồi vượt lên chặn xe chị V dừng lại, K xuống xe đi lại gần rồi dùng dao đã chuẩn bị từ trước dí vào cổ chị V và nói: “Có tiền không? đưa ít chục đổ xăng”, chị V hoảng sợ lấy trong túi quần ra số tiền 75.000 đồng đưa cho Hoàng A. Sau khi lấy được tiền, K điều khiển xe mô tô chở Hoàng A cầm dao ngồi phía sau chạy đi.

Hành vi thứ 2: Sau khi thực hiện hành vi cướp tài sản của chị Ngô Thị V, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A rủ nhau đi ăn đêm. Đến khoảng 03 giờ 15 phút ngày 02/6/2024, Hoàng A tiếp tục điều khiển xe mô tô trên chở K đi đến đoạn đường Quốc lộ 48E thuộc địa phận xóm T, xã N, huyện N, thì thấy anh Nguyễn Duy H3 (sinh năm 1980, trú tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) đang đi xe mô tô cùng chiều phía trước. Hoàng A điều khiển xe chạy vượt lên chặn đầu xe của anh H3 dừng lại, K xuống xe tay cầm dao dí vào cổ anh H3 đe dọa và nói: “Có tiền không, đưa mấy chục đổ xăng”, anh H3 trả lời: “Chỉ có một ít tiền đổ xăng để anh đưa cho”, sau đó anh H3 đưa hết số tiền 50.000 đồng để trong túi bóng trước giỏ xe cho Hoàng A. Sau khi lấy được tiền, thấy anh H3 không có tài sản gì khác, K và Hoàng A lên xe mô tô bỏ đi.

Hành vi thứ 3: Khoảng 03 giờ 40 phút ngày 02/6/2024, Nguyễn Trung K tiếp tục điều khiển xe mô tô trên chở Nguyễn Văn Hoàng A cầm theo dao ngồi phía sau đi đến đoạn đường vắng thuộc xóm T, xã N, huyện N thì phát hiện chị Đặng Thị Q (sinh năm 1971, trú tại xóm K, thị trấn Q, huyện N) đang đi xe mô tô ngược chiều. K điều khiển xe quay lại, đi theo từ phía sau rồi vượt lên chặn đầu xe chị Q dừng lại, Hoàng A ngồi phía sau nhảy xuống xe tiến lại gần chỗ chị Q rồi dùng con dao nhọn đã chuẩn bị từ trước dí trước mặt chị Q để đe dọa, đồng thời nói: “Có tiền không? đưa mấy chục đổ xăng?”, chị Q hoảng sợ phải lấy tiền từ trong túi quần và rút ra 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đưa cho Hoàng A nhưng Hoàng A không đồng ý và tiếp tục nói: “Đưa hết đây”, chị Q quá hoảng sợ nên đã đưa ra hết số tiền 1.600.000 đồng, K đi lại lấy hết số tiền trong tay chị Q. Sau đó, chị Q kéo khẩu trang xuống để lộ vòng tai

bằng vàng, thì K nói: “Đưa vàng đây luôn”. Lúc này Hoàng A vẫn dùng dao để uy hiếp, chị Q phải tháo đôi vòng tai vàng đưa cho K và Hoàng A rồi cả hai lên xe bỏ đi.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04/6/2024, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A đưa số vàng cướp được của chị Q đến Cửa hàng V2 ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An bán cho anh Nguyễn Hồng T1 (sinh năm 1975 - là chủ cửa hàng) với số tiền là 7.200.000 đồng (anh T1 không biết tài sản do trộm cắp được mà có). Toàn bộ số tiền, tài sản chiếm đoạt được của chị V, anh H3, chị Q, K và Hoàng A sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Hành vi thứ 4: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/6/2024, Nguyễn Trung K điều khiển xe mô tô trên, chở theo Nguyễn Văn Hoàng A ngồi phía sau đi đến địa phận xóm H, xã N, huyện N thì phát hiện chị Nguyễn Thị O (sinh năm 1981, trú tại xóm H, xã N, huyện N) đang đi xe đạp tập thể dục phía trước, cùng hai con gái chở nhau trên một xe đạp đi phía sau là cháu Phạm Quỳnh A1 (sinh ngày 06/3/2015) và cháu Phạm Quỳnh N1 (sinh năm 2019). K điều khiển xe mô tô vượt lên ép hai cháu gái đang đi xe đạp dừng lại, Hoàng A ngồi phía sau xuống xe dùng dao dí vào cổ cháu Quỳnh A1 và nói: “Cho xin năm mươi nghìn đổ xăng” làm cháu Quỳnh A1 và chị O hoảng sợ, chị O trả lời: “Không có tiền mặt, chuyển khoản được không?”, Hoàng A nói: “Không”. Lúc đó, K phát hiện thấy chị O có đeo nhẫn và vòng tai bằng vàng nên nói: “Có chỉ trong người đưa đây hết”, chị O trả lời: “Hạ dao xuống đừng làm cháu sợ” rồi tháo 01 (một) chiếc nhẫn vàng đeo tay đưa cho K. K dùng tay tháo 02 (hai) chiếc vòng vàng đeo tai của chị O rồi lên xe mô tô để Hoàng A chở chạy đi.

Hành vi thứ 5: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 04/6/2024, Nguyễn Trung K điều khiển xe mô tô trên, chở theo Nguyễn Văn Hoàng A ngồi phía sau đi đến đoạn đường liên xã thuộc xóm H, xã N, huyện N thì gặp chị Trần Thị V1 (sinh năm 1983, trú tại xóm D, xã D, huyện D) đang điều khiển xe mô tô đi một mình. K điều khiển xe đi theo từ phía sau rồi áp sát vượt lên chặn đầu xe chị V1 dừng lại nói: “Cho vài trăm đổ xăng”, chị V1 trả lời: “Chị không có” thì Hoàng A tiến lại gần rồi kề dao vào cổ chị V1 nói tiếp: “Đưa tiền đây”, chị V1 lấy trong túi áo ra một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. K nói với Hoàng A: “Coi trên người còn có chi nữa không?” thì Hoàng A trả lời: “Còn bông tai”, K nói với chị V1: “Tháo bông tai ra luôn”, chị V1 tháo một bên bông tai, còn K tháo chiếc bông tai còn lại. Sau khi lấy được tài sản thì Hoàng A điều khiển xe chở K ngồi phía sau bỏ đi.

Đến 10 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A đưa 01 chiếc nhẫn vàng và 02 chiếc vòng tai bằng vàng cướp được của chị Nguyễn Thị O đến Cửa hàng V3 ở xã D, huyện D để bán cho anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1998, trú tại thôn G, xã D, huyện D, là nhân viên cửa hàng) lấy số tiền là 3.200.000 đồng (anh T2 không biết tài sản do trộm cắp được mà có), sau đó anh T2 đã bán số vàng đó cho một người không quen biết nên không thu hồi được; còn 02 chiếc vòng

tai bằng vàng cướp được của chị Trần Thị V1, K và Hoàng A làm rơi mất trong quá trình bỏ chạy, không thu hồi được. Số tiền cướp được của chị V1 và số tiền bán vàng cướp được của chị O, K và Hoàng A sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Vào các ngày 04, 05/6/2024, lần lượt chị Đặng Thị Q, anh Nguyễn Duy H3, chị Ngô Thị V, chị Nguyễn Thị O và chị Trần Thị V1 đến Công an huyện N trình báo sự việc. Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A. Thu giữ của Nguyễn Trung K 01 (một) con dao nhọn dài 40cm; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn Đỏ Đen Bạc, không có biển kiểm soát, số khung RLHJA3914LY120842; số máy: JA39E1458777.

Ngày 06/6/2024, anh Nguyễn Hồng T1 giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N 02 (hai) chiếc vòng kim loại màu vàng (là trang sức đeo tai).

Tại bản Kết luận giám định số 4393/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của V4 - Bộ C kết luận: “Đối với 02 (hai) vòng kim loại màu vàng (là trang sức đeo tai) do anh Nguyễn Hồng T1 giao nộp ngày 06/6/2024 (là tài sản do Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A thực hiện hành vi cướp tài sản mà có được); 02 (hai) vòng kim loại màu vàng gửi giám định có tổng trọng lượng 3,75gam (ba phẩy bảy mươi năm gam) là vàng (A), hàm lượng Au trung bình: 99,91%".

Kết luận định giá tài sản số 25/KL-ĐG ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận:

  • “+ 02 (hai) vòng trang sức đeo tai bằng vàng, loại vàng 9999, có tổng trọng lượng là 01 (một) chỉ, có giá trị 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
  • + 02 (hai) vòng trang sức đeo tai bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng là 0,91 (không phẩy chín mươi mốt) chỉ, có giá trị 4.595.000 đồng (Bốn triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
  • + 01 (một) nhẫn bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng là 0,5 (không phẩy năm) chỉ, có giá trị 2.525.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  • + 02 (hai) vòng trang sức đeo tai bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng là 0,5 (không phẩy năm) chỉ, có giá trị 2.525.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng)”.

Vật chứng và tài sản liên quan trong vụ án:

  • 01 (một) con con dao nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán bằng gỗ dài 15cm, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Trung K (các bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội) - hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Chi cụ THADS huyện N, tỉnh Nghệ An chờ xử lý.
  • 02 (hai) vòng kim loại màu vàng, có tổng trọng lượng là 3,75 gam là vàng Au, hàm lượng Au trung bình: 99,91% - đã được thu hồi, trả lại cho bị hại là chị Đặng Thị Q.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn Đỏ Đen Bạc, không có biển kiểm soát, số khung RLHJA3914LY120842, số máy: JA39E1458777 - thuộc sở hữu của bà Võ Thị L (sinh năm 1961, trú tại xóm C, xã N, huyện N), xe bị các bị cáo trộm cắp trong một vụ án khác vào ngày 01/6/2024 nên Cơ quan điều tra đã thu hồi, trả lại cho bà L.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Gia đình các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A đã bồi thường cho các bị hại cụ thể gồm: Ngô Thị V 75.000 đồng; Nguyễn Duy H3 50.000 đồng; Đặng Thị Q 1.600.000 đồng; Trần Thị V1 2.400.000 đồng; Nguyễn Thị O 7.100.000 đồng. Các bị hại không có yêu cầu gì thêm và đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
  • Ngày 30/7/2024, gia đình các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A đã bồi thường cho anh Nguyễn Hồng T1 số tiền 7.200.000 đồng, anh T1 không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 77/CT-VKS-TK ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A ra trước Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An để xét xử bị về tội: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e, khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

a) Về trách nhiệm hình sự:

  • Hình phạt chính: Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38; Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Nguyễn Văn Hoàng A mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, về tội: “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (04/6/2024).
  • Xử phạt: Nguyễn Trung K mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, về tội: “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam (04/6/2024).
  • Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung do các bị cáo là trẻ em phạm tội.
  • Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai có yêu cầu gì thêm về dân sự đối với các bị cáo nên đề nghị HĐXX miễn xét.
  • Về án phí: Các bị cáo là trẻ em phạm tội nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

- Đại diện hợp pháp của các bị cáo trình bày thống nhất: Các bị cáo phạm tội khi còn nhỏ tuổi, cả hai đều đang trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 15, hiểu biết về

pháp luật và xã hội còn non kém, do gia đình các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ thiếu sự quan tâm, dạy dỗ nên các bị cáo nghe theo bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo và đã nhất thời phạm tội. Các bị cáo tác động gia đình để bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra. Gia đình các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân, độ tuổi phạm tội, khả năng nhận thức của các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội, làm lại cuộc đời.

Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã N và xã N, huyện N có đơn xin vắng mặt nhưng có văn bản trình bày về việc đề nghị Tòa án xem xét đến độ tuổi phạm tội, nhân thân và hoàn cảnh gia đình của các bị cáo để xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm bào chữa: Bị cáo Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A bị truy tố và xét xử về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e, khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội nên không có ý kiến tranh luận gì về tội danh. Xét thấy các bị cáo đều cuất phát từ gia đình thuần nông, khi thực hiện hành vi phạm tội đang là trẻ em, cả hai đều là người từ đủ 14 đến dưới 15 tuổi, đang trong độ tuổi mới lớn, dậy thì, nhận thức về pháp luật và xã hội còn rất non kém, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thiếu có điều kiện dạy dỗ, quan tâm, giáo dục đối với các bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo K và bị cáo Hoàng A đều có ông nội là người có công với Nhà nước, các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hai bị cáo đều là người cùng khởi xướng, cùng thực hành tích cực nên đề nghị xem xét cho hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo, khi quyết định hình phạt áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự và các quy định dành cho người phạm tội từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi để các bị cáo có cơ hội tự rèn luyện, cải tạo thành người công dân tốt có ích cho gia đình, xã hội và sớm hòa nhập cộng đồng, làm lại cuộc đời và đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 03 năm 06 tháng tù.

Các bị cáo và đại diện hợp pháp nhất trí với các ý kiến của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì khác. Các bị cáo đều có lời nói sau cùng: Do thiếu hiểu biết về pháp luật, bị bạn bè xấu rủ rê nên các bị cáo đã thực hiện các hành phạm tội, trong thời gian bị tạm giam, các bị cáo đã biết việc mình làm là sai trái và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ai có ý kiến hay yêu cầu gì nên sự vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Về người bào chữa cho các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, người bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bị cáo theo chỉ định là bà Hoàng Thị Hà P –Luật sư văn phòng L3 thuộc đoàn luật sư tỉnh N. Tuy nhiên, tại phiên tòa, các bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị cáo có đơn từ chối bà Hà P tham gia bào chữa, đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Văn K1 – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo, ông K1 có mặt và đồng ý với yêu cầu trên. Việc từ chối bà Hà P và yêu cầu ông K1 làm người bào chữa cho các bị cáo là do các bị cáo và đại diện hợp pháp tự nguyện nên được chấp nhận.

[4] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận: Để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn Hoàng A và Nguyễn Trung K đã điều khiển xe mô tô chở nhau lưu thông trên các tuyến đường của xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, lợi dụng đêm khuya, đường vắng để chặn xe, dùng phương tiện nguy hiểm là 01 con dao nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán bằng gỗ dài 15cm dí vào cổ của người đi đường đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tài sản. Với phương thức, thủ đoạn như trên, Nguyễn Trung K và Nguyễn Văn Hoàng A đã thực hiện các hành vi uy hiếp đe dọa tính mạng và chiếm đoạt tài sản như sau: Trong ngày 01/6/2024, chiếm đoạt của chị Ngô Thị V 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) và chiếm đoạt của anh Nguyễn Duy H3 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng); ngày 02/6/2024, chiếm đoạt của chị Đặng Thị Q số tiền 1.600.000 đồng và 01 (một) đôi bông tai bằng vàng 9999, tổng trọng lượng là 01 chỉ có giá trị là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng); ngày 04/6/2024, hai bị cáo đã dùng dao nhọn dí vào cổ cháu Phạm Quỳnh A1 (là con gái của chị Đặng Thị O1, thời điểm các bị cáo phạm tội, cháu

Quỳnh A1 mới 09 tuổi 02 tháng 28 ngày) để khống chế, đe dọa cháu Quỳnh A1 nhằm uy hiếp và chiếm đoạt của chị O1 02 (hai) vòng đeo tai bằng vàng 18K, có tổng trọng lượng là 0,91 chỉ, có giá trị là 4.595.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng) và 01 (một) nhẫn bằng vàng 18K, có tổng trọng lượng là 0,5 chỉ có giá trị là 2.525.000 đồng (Hai triệu, năm trăm hai lăm nghìn đồng); ngày 04/6/2024, chiếm đoạt của chị Trần Thị V1 số tiền 200.000 đồng và 02 (hai) vòng đeo tai bằng vàng 18K, có tổng trọng lượng là 0,5 chỉ có giá trị là 2.525.000 đồng (Hai triệu, năm trăm hai lăm nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản trong 05 hành vi cướp tài sản của các bị cáo là 19.070.000 đồng (Mười chín triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng), số tiền này các bị cáo đã cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Như vậy, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng dao đe dọa đến tính mạng của cháu Phạm Quỳnh A1 (09 tuổi 02 tháng 28 ngày) và dùng dao uy hiếp các bị hại khác nhằm chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn Hoàng A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất, vai trò và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) và tình tiết giảm nhẹ TNHS và nhân thân của các bị cáo:

Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân và làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

Trong vụ án này có 02 bị cáo tham gia, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, hành vi mang tính bột phát nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều đang là trẻ em từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, tuy bị cáo K là người khởi xướng, nhưng Hoàng A cũng có cùng ý tưởng, cả hai cùng hưởng ứng và tham gia tích cực ngay từ đầu nên việc xác định các bị cáo đều có vai trò ngang nhau và chịu mức hình phạt tương đương nhau là có sơ sở.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo còn nhỏ tuổi, đang là trẻ em, nhưng hành vi thật sự ngang nhiên, liều lĩnh, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng, chứng tỏ các bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo. Việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo giục thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và để có tác dụng phòng chống tội phạm thanh thiếu niên trong tình hình hiện nay là thật sự cần thiết.

Nguyễn Trung KNguyễn Văn Hoàng A đã cùng nhau thực hiện 05 hành vi dùng dao uy hiếp bị hại để chiếm đoạt tài sản nên các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đều tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo đều có ông nội là người có công với Nhà nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Ngoài ra, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều trong độ tuổi trẻ em từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, vì vậy cần áp dụng các quy định, nguyên tắc xử lý đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội được quy định tại các Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo dưới 18 tuổi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Nguyễn Trung KNguyễn Văn Hoàng A đều là trẻ em phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Trong vụ án này, có anh Nguyễn Hồng T1Nguyễn Văn T2 là người đã mua lại các tài sản (nhẫn, hoa tai) mà các bị cáo mang đến bán. Anh T3, anh T2 không biết đó là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có và đã giao nạp các tài sản trên để trả lại cho các bị hại trong quá trình điều tra, việc không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh T3, anh T2 là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã sử dụng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn Đỏ Đen Bạc, không có biển kiểm soát, số khung RLHJA3914LY120842, số máy: JA39E1458777, thuộc sở hữu của bà Võ Thị L, sinh năm 1961, trú tại xóm C, xã N, huyện N làm phương tiện để đi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đây là chiếc xe do bị cáo các bị cáo lấy trộm của bà L trong một vụ án khác vào ngày 01/6/2024, do đó bà L không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án, xét thấy:

  • Đối với 02 (hai) vòng kim loại màu vàng, có tổng trọng lượng là 3,75 gam là vàng Au, hàm lượng Au trung bình: 99,91%, đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại là chị Đặng Thị Q là đúng quy định nên HĐXX không xem xét.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn Đỏ Đen Bạc, không có biển kiểm soát, số khung RLHJA3914LY120842, số máy: JA39E1458777 do bị cáo Nguyễn Trung K trộm cắp của bà Võ Thị L (sinh năm 1961, trú tại xóm C, xã N, huyện N) trong một vụ án khác vào ngày 01/6/2024, hiện nay đã được Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại chiếc xe trên cho bà L nên không xem xét.
  • Đối với 01 (một) con con dao nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán bằng gỗ dài 15cm, đã qua sử dụng thu giữ của các bị cáo, đây là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra, các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được gia đình các bị cáo bồi thường đầy đủ và không có yêu cầu gì về dân sự đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Quá trình điều tra xác định, trong khoảng thời gian từ ngày 18/4/2024 đến ngày 01/6/2024, bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn Hoàng A và các đối tượng: Võ Tuấn A2(sinh ngày 14/7/2008, trú tại xóm N, xã N, huyện N), Viên Thế Đ (sinh ngày 14/4/2007, trú tại xóm T, xã N, huyện N) và Trần Quang H5 (sinh ngày 12/01/2007, trú tại xóm G, xã N, huyện N) đã cùng nhau thực hiện 05 (năm) hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện các hành vi này thì Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn Hoàng A, Võ Tuấn A2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Trung K còn thực hiện 02 (hai) hành vi trộm cắp tài sản cùng các đối tượng Viên Thế ĐTrần Quốc H6 trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển hồ sơ và vật chứng có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền là đúng quy định.

[10] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn Hoàng A đang là trẻ em người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38; Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt: Nguyễn Trung K 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 04/6/2024.
    • Xử phạt: Nguyễn Văn Hoàng A 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: 04/6/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con con dao nhọn, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán bằng gỗ dài 15cm, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Trung KNguyễn Văn Hoàng A, là công cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

    Vật chứng trên có tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục THADS huyện N, lập vào ngày 05/9/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn Hoàng A.

  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, đại diện hợp pháp và người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

    Các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp và người bào chữa
  • của bị cáo;
  • - Bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nghi Lộc;
  • - Công an huyện Nghi Lộc;
  • - THA dân sự, THA hình sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiên, Hoàng Anh thực hiện 04 hành vi cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger