Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 18 tháng 9 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Điền
Ông Phạm Ngọc Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Hải Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Lê Văn C, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT, nơi ở: khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Văn L; Mẹ đẻ: Trần Thị T; Anh chị em ruột: Gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị L1, đã chết; Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con thứ hai sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019.
    • - Tiền án, tiền sự: Không.
    • - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/5/2024 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).
  2. Bị hại: Chị Trần Thị L1, sinh năm 1997, địa chỉ: Khu A, xã V, thị xã P tỉnh Phú Thọ. (Đã chết)
    • - Người đại diện của bị hại: Chị Trần Ngọc L2, sinh năm 1998, địa chỉ: Khu B, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. SĐT: 0389.390.xxx (có mặt).
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
    • - Ông Lê Văn L, sinh năm 1961, địa chỉ: Khu A, xã V, thị xã P tỉnh Phú Thọ. SĐT: 0964.803.xxx (có mặt).
    • - Anh Hoàng Minh P, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. SĐT: 0372.877.xxx (có mặt).
  4. Người làm chứng:
    • - Anh Phạm Hồng S, sinh năm 1972, địa chỉ: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. SĐT: 0333.725.xxx (có mặt).
    • - Anh Lương Văn A, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. SĐT: 0985.369.xxx (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn C, sinh năm 1991 kết hôn với chị Trần Thị L1, sinh năm1997. C và chị L1 có 3 người con chung, cùng sống tại khu A, xã V, Thị xã P. Quá trình chung sống, hai vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn gì. Đến khoảng tháng 10/2023, qua ứng dụng Titok, chị L1 quen biết, nảy sinh tình cảm nam nữ với Cà Văn N, sinh năm 1999 ở bản C, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chị L1 và N thường xuyên sử dụng các ứng dụng Messenger, Z, T1 để nhắn tin, gọi điện cho nhau vào buổi tối, đêm hoặc các ngày nghỉ, đồng thời chị L1 tỏ ra không quan tâm tới gia đình, không quan tâm, chăm sóc chồng cùng các con, giấu kín điện thoại di động của mình. Từ đó dẫn đến Lê Văn C nghi ngờ chị L1 có quan hệ tình cảm với người khác, giữa hai vợ chồng xảy ra cãi cọ. Đến tháng 02/2024, C phát hiện chị L1 và N nhắn tin tình cảm yêu đương nam nữ khi C xem được nội dung tin nhắn giữa N và chị L1 trong ứng dụng Messenger trên điện thoại di động của chị L1. Cảnh nhắn tin qua ứng dụng Messenger yêu cầu N chấm dứt qua hệ tình cảm với chị L1 và C khuyên chị L1 từ bỏ mối quan hệ với N để gia đình hòa thuận, vợ chồng cùng nhau nuôi con. Tuy nhiên, chị L1 không thừa nhận có quan hệ yêu đương với N. Tới cuối tháng 02/2024, đầu tháng 3/2024, chị L1 bỏ nhà đi, các con chung sống cùng C. Cảnh nhiều lần liên lạc, đi tìm, cầu xin chị L1 quay về nhưng chị L1 không đồng ý. Ngày 13/3/2024 Chị L1 đã làm đơn ly hôn với C gửi Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, TAND TX Phú Thọ đã ra thông báo thụ lý vụ án dân sự số 21/2024/TLST-HNGĐ về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn là chị Trần Thị L1, bị đơn là Lê Văn C.

Trong thời gian bỏ nhà đi, chị L1 và N nhiều lần gặp gỡ, quan hệ tình dục với nhau, đồng thời chị L1 đề nghị C đến TAND thị xã Phú Thọ để giải quyết việc ly hôn giữa hai vợ chồng được thuận lợi, nhanh chóng nhưng C không đồng ý, không đến Tòa án mà thường xuyên gọi điện, nhắn tin năn nỉ chị L1 quay về. Chị L1 tâm sự với N về việc này, vì có tình cảm yêu đương với chị L1 nên N muốn C và chị L1 ly hôn để N và chị L1 đến với nhau, công khai chuyện tình cảm. Bởi vậy, N đã sử dụng tài khoản zalo của mình nhắn tin khiêu khích, chửi bới C, gửi video quay lại hình ảnh quan hệ tình dục nam nữ cho C mục đích để C thấy bực tức, chán nản mà phải chấp nhận ly hôn nhưng C không trả lời tin nhắn của N. Đầu tháng 5/2024, chị L1 chuyển đến ở nhờ tại căn nhà của bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1968 tại khu F, xã P, huyện P.

Khi C chia sẻ chuyện mâu thuẫn của vợ chồng C với Hoàng Minh P, sinh năm 1989 trú tại khu A, xã P, huyện P thì được P cho biết vợ P là Trần Ngọc L2, sinh năm 1998, L2 là em gái ruột chị L1 cũng bỏ nhà đi từ tháng 4/2024, P nghi ngờ chị L2 bỏ nhà ra đi vì có nhân tình và L2 đang ở cùng chị L1. P và C bàn nhau cùng đi tìm chị L2 và chị L1.

Trước ngày 02/5/2024 khoảng 1,2 ngày, Cà Văn N nhận được tin nhắn từ tài khoản zalo lạ, nội dung yêu cầu N phải chấm dứt quan hệ yêu đương nam nữ với chị L1. Nghĩ rằng tài khoản zalo này là của C nên ngày 02/5/2024 N nhắn tin vào tài khoản zalo của C chửi bới C là đàn ông nhu nhược, ăn hại không giữ được vợ, là “chó canh cổng” (C làm nhân viên bảo vệ), đồng thời nói với C “cảm ơn đã cho tao dùng lại” (ý là cảm ơn vì việc được quan hệ tình dục với L1), C cũng chửi lại N. C gọi điện kể lại cho P nghe chuyện bị N khiêu khích, chửi bới thì P nói, P tìm hiểu và biết chị L1, chị L2 đang gần chợ P1. Buổi tối ngày 04/5/2024, C và P rủ nhau tìm đến nhà bà L3, rình, nấp nếu phát hiện chị L2, chị L1 ở cùng nhân tình sẽ gọi gia đình, chính quyền địa phương đến để chị L2, chị L1 không chối cãi được việc làm sai phạm của mình mà quay về với chồng, con.

Trước khi đi C cầm theo 01 con dao loại dao gọt hoa quả có chuôi màu vàng, lưỡi dao nhọn bằng kim loại sáng màu có 1 lưỡi sắc dài 10 cm bản rộng nhất 2 cm. Con dao này C mua tại cửa hàng tạp hóa của chị Lê Thị Hồng H, sinh năm 1992 trú tại khu A, xã V, TX P, tỉnh Phú Thọ với giá 30.000₫ vào thời gian trước đó khoảng 7 ngày nhằm sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Cảnh đúc dao ở túi quần dài bên phải, mục đích để phòng thân nếu bị nhân tình của chị L1 đánh, ngoài ra C mang chìa khóa phụ xe máy của chị L1. C đi đến khu vực chợ P1 tìm ở các nhà trọ và nhà dân, C dùng chìa khóa phụ xe máy bấm để xe máy phát ra tín hiệu ở nhà nào thì C xác định chị L1 ở nhà đó. Sau khi xác định được chị L1 ở nhà bà L3, C đi về nhà P, nói với P đã tìm được chỗ ở của L1. C nói với P về việc nghe được chị L1 nói trên điện thoại với chị L2 nội dung: “tao thấy xe máy tao tự dưng kêu, tao nghi thằng C nó biết chỗ này mày đừng có về nhé, đi đến khoảng 3-4 giờ thì về”. C và P thống nhất theo dõi xem chị L1 và chị L2 có đưa người tình về nhà trọ không để phục bắt quả tang rồi gọi gia đình đến chứng kiến. P và C đến nhà trọ của chị L1, C trèo tường vào trong, đi ra phía sau nhà để theo dõi, còn P theo dõi ở phía trước nhà và ngoài cổng. Trong quá trình theo dõi P và C thường xuyên trao đổi với nhau qua tin nhắn Messenger. P và C theo dõi cả đêm không thấy chị L2 về, cũng không có ai vào chỗ ở của chị L1.

Đến khoảng 09 giờ sáng ngày 05/05/2024, P trèo tường phía sau nhà đi đến chỗ C đang theo dõi. P gọi điện cho chị L1 bảo chị L1 mở cửa để P nói chuyện với chị L1 xem chị L2 ở đâu. Chị L1 nói với P “có thằng C thì tao không gặp” cho nên P đã quát C “anh đi ra ngoài để em vào nói chuyện với chị xem vợ em đâu”. Sau đó, chị L1 mở cửa cho P và nói chuyện với P ở hiên nhà. L1 nói với P là L2 không ở cùng với chị L1, quần áo của L2 ở đây là do chị L2 cho chị L1. Chị L1 lấy điện thoại của mình gọi video qua ứng dụng Messenger cho chị L2 rồi đưa cho P nói chuyện. Trong lúc P nói chuyện với L2 ở phòng bếp trong nhà thì C đi vào phòng khách, dùng tay bám vào cổ áo của L1 đẩy vào phòng ngủ, tiếp giáp phòng khách và bếp. Chị L1 nói với C “bỏ cái áo tao ra nhanh”, C nói “Tao sẽ thả mày vào đây đi” chị L1 chống cự lại và nói “Bỏ ra....bỏ ra...địt mẹ thằng này nữa”. Chị L1 đạp chân về phía người Cảnh, hai bên giằng co nhau nên gương trong phòng bị đổ xuống chắn ngang lối đi ở cửa buồng. Do bị chửi và bức xúc với việc chị L1 bỏ nhà đi nên C lấy con dao nhọn để trong túi quần bên phải của mình ra cầm trên tay phải (chuôi dao nắm trong lòng bàn tay, phần lưỡi dao trúc xuống dưới). Lúc này C đang đứng ngang bên phải cùng hướng với chị L1, C dùng tay trái quàng qua vai và nắm vào vai trái của chị L1 ấn chị L1 cúi người xuống, đồng thời dùng dao đâm mạnh từ ngoài vào trong, từ phải sang trái theo chiều ngang trúng vào vùng bụng chị L1, C rút dao để đâm tiếp vào vùng ngực của chị L1 thì chị L1 vùng ra khỏi tay C nên dao đâm trúng vào bả vai bên phải của chị L1. Chị L1 bị thương bỏ chạy ra phòng khách rồi chạy ra sân, vừa chạy vừa kêu. Cảnh đuổi theo phía sau và dùng dao đâm nhiều nhát vào lưng chị L1. Khi chị L1 chạy ra sân thì C giữ được chị L1 và dùng dao đâm liên tiếp nhiều nhát dao và vùng lưng, ngực của chị L1, chị L1 chống đỡ nên nhiều nhát dao trúng vào lưng, ngực và trúng tay ở nhiều vị trí. Quá trình C dùng dao đâm liên tiếp và cơ thể chị L1 thì có một nhát dao đâm vào lưng khiến lưỡi dao bị cong, C rút dao ra nắn lại lưỡi dao rồi tiếp tục đâm tiếp nhiều nhát vào cơ thể chị L1, chỉ đến khi chị L1 gục nằm xuống sân và lưỡi dao bị bật rời khỏi chuôi dao thì C mới dừng lại và bỏ lại lưỡi dao, chuôi dao dưới nền sân gạch.

Thời điểm C dùng dao tấn công chị L1 thì P đang nói chuyện với L2 trong phòng bếp thì nghe thấy chị L1 kêu, P chạy ra trước nhà và nhìn thấy C dùng dao đâm chị L1 ở sân. P quát C “Ối giời ơi anh làm cái đéo gì thế anh C, sao anh lại đâm nó.” lúc đó có nhiều người đến đứng ở ngoài đường, do cửa cổng bị khóa nên không ai vào can ngăn cấp cứu được. Anh Phạm Hồng S, sinh năm 1972 ở khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ là người dân ở gần nhà bà L3 nói “Mày mở cửa đưa nó đi cấp cứu không nó chết bây giờ đấy” lúc này C hoảng hốt lấy then cửa trong nhà ra đập khóa cổng và hô gọi xe cấp cứu, P trèo tường ra ngoài gọi xe được xe của anh Lương Văn A, sinh năm 1991 ở khu D, xã T, C bế chị L1 lên xe cùng anh A đưa chị L1 đi cấp cứu nhưng chị L1 đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, Lê Văn C đã đến Công an huyện P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tự nguyện giao nộp một số đồ vật, tài liệu. CQĐT đã thu giữ mẫu tóc của Lê Văn C để phục vụ giám định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tiếp nhận nguồn tin từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, ngày 05/5/2024 đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc, khám nghiệm tử thi chị Trần Thị L1 và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.

Khi khám nghiệm hiện trường tại nơi xảy ra vụ việc thuộc khuôn viên nhà ở của bà Nguyễn Thị L3 tại khu F, xã P, huyện P, CQĐT đã thu giữ mẫu máu, các đồ vật có liên quan đến vụ việc.

Kết quả khám nghiệm tử thi xác định trên cơ thể chị L1 có 17 vết rách da với các kích thước khác nhau, bờ mép đều sắc gọn, chiều hướng tác động là từ bên ngoài vào bên trong cơ thể. Trong đó có các vết thương:

  • Tại ngực trái có vết rách da KT 2,5 x 1cm, đứt 1 phần sụn sườn số 6, 7.
  • Tại vùng nách trái có vết rách da KT 2,5 x 1,2cm, rách khe sườn 3, 4, đứt 1 phần xương sườn số 4, rách thuỳ phổi trái KT 1,3 x 0,2 x 5cm.
  • Tại phía trên rốn có vết rách da KT 3,5 x 1,3cm, rách phúc mạc, rách và xuyên thấu mặt trước gan phải KT 3,5 x 0,1cm,
  • Tại vùng liên sống bả và bả vai bên phải có vết rách da KT 2 x 0,5cm, rách khe sườn 3, 4, rách thuỳ giữa phổi phải KT 2 x 1 x 0,5cm
  • Khoang ngực và ổ bụng có nhiều máu không đông.

Ngày 05/05/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh P giải phẫu tử thi Trần Thị L1, xác định nguyên nhân chết, thời gian chết, cơ chế hình thành vết thương. Ngày 06/06/2024. Phòng K Công an tỉnh P kết luận giám định số 794 kết luận: Nguyên nhân chết của Trần Thị L1 là mất máu cấp do các vết thương thấu ngực – bụng; Thời gian chết tính đến thời điểm khám nghiệm khoảng từ 6 giờ đến 12 giờ. Thời gian chết sau bữa ăn cuối là sau 6 giờ; Cơ chế hình thành vết thương là do vật sắc nhọn gây nên.

Ngày 06/05/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh P xác định trên chuôi dao và lưỡi dao thu tại hiện trường có dấu vết đường vân không, nếu có có phải là dấu vân tay của Lê Văn C không. Ngày 03/06/2024 Phòng K Công an tỉnh P kết luận giám định số 751 kết luận: Trên chuôi dao bằng nhựa mầu vàng và lưới dao bằng kim loại loại dao có một lưỡi sắc được cơ quan CSĐT Công an tỉnh P thu giữ thông qua công tác khám nghiệm hiện trường không phát hiện dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định.

Ngày 06/05/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh P xác định trong mẫu máu của tử thi Trần Thị L1 có nồng độ cồn, có chất ma túy không? Là loại ma túy gì. Ngày 16/05/2024 Phòng K Công an tỉnh P kết luận giám định số 687 kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Trần Thị L1 không có chất ma túy. Ngày 20/06/2024 Phòng K Công an tỉnh P kết luận giám định số 703 kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Trần Thị L1 không có cồn (ethanol)

Ngày 07/05/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P trưng cầu giám định V Bộ C1 giám định trên lưỡi dao và chuôi dao có bám dính máu người không? Nếu có bám dính máu người có phải máu của Trần Thị L1 không. Trên lưỡi dao và chuôi dao có ADN của Lê Văn C không? Ngày 06/06/2027 V Bộ C1 kết luận giám định số 3381 kết luận: Trên lưỡi dao có bám dính máu người và là máu của tử thi Trần Thị L1, không có ADN của Lê Văn C. Trên chuôi dao có bám dính máu người và là máu của tử thi Trần Thị L1, còn có ADN người do lượng dấu vết ít nên không phân tích được kiểu gen, không đủ cơ sở để xác định có ADN của Lê Văn C hay không.

Quá trình điều tra chị Trần Ngọc L2 giao nộp 01 chiếc đồng hồ bên trong chứa file ghi âm quá trình xảy ra vụ án, đây là đồng hồ của chị L1 sử dụng ghi âm trong quá trình bị xâm hại đến tính mạng. Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất dữ liệu, cho bị can và người liên quan giải trình nội dung ghi âm. Kết quả phù hợp với nội dung diễn biến sự việc như đã nêu ở trên, sau khi trích xuất tài liệu đã trả lại chiếc đồng hồ trên cho chị Trần Ngọc L2 là em gái ruột chị Trần Thị L1.

Tại CQĐT, Lê Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. C khẳng định sau khi chị L1 bỏ nhà đi, C không nhắn tin, không liên lạc gì với N cho đến ngày 02/5/2024, khi N nhắn tin xúc phạm, khiêu khích C thì C mới nhắn tin chửi lại N. Ngày 05/5/2024, khi nhìn thấy chị L1 thì C muốn gặp, động viên chị L1 quay về nhưng ngay khi gặp nhau, chị L1 đã tỏ thái độ hắt hủi, chửi bới, đạp chân về phía Cảnh nên C uất ức, thêm tức giận trước đó bị dồn nén, C không làm chủ được bản thân đã lấy dao từ trong túi quần đâm chị L1, trong khi đâm, C có ý định sẽ chết cùng chị L1 nhưng khi nghe tiếng có người quát “Mày mở cửa đưa nó đi cấp cứu không nó chết bây giờ đấy”, thì C hốt hoảng nhận ra đã đâm chị L1 nhiều nhát vào người, tính mạng chị L1 sẽ nguy kịch nên C dừng tay, phá cổng đưa chị L1 đi cấp cứu.

Căn cứ vào hành vi của Lê Văn C các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, ngày 22/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn C về tội “Giết người”.

Cáo trạng số 81/CT-VKS-P2 ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố Lê Văn C về tội Giết người, quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 123. Tội giết người

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

...

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

...”

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.

Tại phiên tòa đại diện cho bị hại không yêu cầu bồi thường, đề nghị xem xét hình phạt theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:

Căn cứ khoản 2 Điều 123, điểm e, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lê Văn C từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận đại diện cho bị hại không yêu cầu bồi thường. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí và các vấn đề cần giải quyết khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về đánh giá chứng cứ:

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở xác định:

Lê Văn C và chị Trần Thị L1 là vợ chồng có 3 người con chung còn nhỏ, cuộc sống gia đình có nhiều khó khăn vất vả, vợ chồng không mâu thuẫn. Chị L1 quen biết, nảy sinh tình cảm nam nữ với Cà Văn N.

Trong hoàn cảnh phải nuôi ba con nhỏ vợ bỏ đi và có nhiều tin nhắn xúc phạm, thách thức của chị L1 trải dài từ tháng 2/2024 đến tháng 5/2024 và tin nhắn xúc phạm danh dự nhân phẩm của Cà Văn N đối với bị cáo làm cho tâm lý bị cáo bị dồn nén, phẫn uất.

Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện bị cáo yêu thương vợ, sẵn sàng chấp nhận mọi hoàn cảnh éo le để lo cho các con được sống bên mẹ nhưng chị L1 có nhiều tin nhắn thể hiện quan điểm miệt thị, bất chấp tình cảm và đạo lý đưa ra các tin nhắn xỉ nhục hạ thấp danh dự của người chồng.

Tại thời điểm tìm được chị Trần Thị L1 vào ngày 05/5/2024 hai bên tiếp tục có sự xung đột, không tôn trọng lẫn nhau, Lê Văn C đã không kiềm chế được hành vi mà sử dụng dao nhọn đâm nhiều nhát dẫn đến chị L1 bị thương tích nặng và tử vong.

Hành vi nêu trên Lê Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố về tội Giết người, quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở.

Hành vi của bị cáo đã thiệt hại đến tính mạng của bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Về động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội: Vì muốn giữ hạnh phúc gia đình, thương yêu các con còn nhỏ nhưng chị L1 bỏ nhà đi có nhiều hành động đi ngược lại mong muốn đúng đắn của bị cáo, vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự nhân phẩm của bị cáo. Với sự dồn nén uất ức nên đã có hành động thiếu kiểm soát dẫn đến thiệt hại tính mạng cho chị L1.

  • + Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đâm vào người bị hại cho đến khi người bị hại ngã gục, hành vi thể hiện tính quyết liệt, đến cùng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS.
  • + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và phạm tội do bị dồn nén kích động do bị hại có lỗi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm e, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét hoàn cảnh cụ thể của bị cáo, các con của bị cáo nên áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để áp dụng cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ điều kiện để giáo dục cải tạo bị cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Về mai táng phí, tổng số tiền mai táng phí hết 72.000.000đ, ông Lê Văn L là bố đẻ của C đã chi trả khoản tiền này. Người đại diện theo pháp luật của chị Trần Thị L1 là chị Trần Ngọc L2 (em gái) không yêu cầu Lê Văn C phải bồi thường các khoản chi phí gì và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.

[3]. Về xử lý vật chứng:

  • + 02 chiếc dép màu trắng bề mặt có bám dính chất dịch mầu nâu đỏ
  • + 01 đoạn kim loại hình trụ tròn màu trắng phần đầu đoạn kim loại có nhiều vết móp méo, trượt xước, lõm kim loại.
  • + 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng nhãn hiệu Việt Tiệp, bề mặt ổ khóa có nhiều vết móp méo, trượt xước, lõm kim loại cùng 01 một móc khóa treo bằng kim loại màu trắng.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Pro max đã cũ, mặt sau màu đen có số imel: 0352117351340340, gắn sim số 0352.980.350 của tử thi Trần Thị L1.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen, số imeil 1: 358475771068733; số imel 2: 359111891068738. Bên trong máy gắn số sim 1: 0826.556.531; số sim 2: 0971.331.881, điện thoại đã qua sử dụng, mặt phần sau camera có vết nứt vỡ.
  • + 01 áo cộc tay màu xám, tay áo màu đen, trước ngực áo có chữ màu đen “NKLANG”, phía sau ngực áo có chữ màu trắng “EKGS IN THE HOUSE” trên áo có nhiều vết mầu nâu đỏ đã khô.
  • + 01 quần bò dài màu đen bạc, mép túi quần trước và túi quần sau bên phải có tem “JeansHK37”, trên quần có vết mầu nâu đỏ đã khô.
  • + 01 đôi dép, loại dép xốp màu đen có chữ “smile” chiều dài 25cm.
  • + 01 bì niêm phong có 05 dấu của Viện KHHS Bộ C1 cùng các chữ ký, họ tên ở vị trí giáp lai bên trong có 01 chuôi dao bằng nhựa màu vàng, 01 lưỡi dao bằng kim loại bị gãy cán, bị cong vênh, đầu nhọn có một lưỡi sắc dài 12cm, bản rộng nhất 2cm bị gãy chuôi.

Các vật chứng không còn giá trị, hoặc ít giá trị sử dụng, đại diện bị hại không nhận lại nên tịch thu để tiêu hủy. Vật chứng không liên quan đến tội phạm thì trả lại cho chủ sở hữu.

[4] Quan điểm của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với pháp luật và nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Các quyết định của cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên; Kiểm sát viên, thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về hình phạt:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm e, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lê Văn C 06 năm tù (sáu năm) về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/5/2024.

[2] Về dân sự: Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584; Khoản 1, Điều 585; Khoản 1, Điều 586; Điều 591 Bộ luật Dân sự.

Xác nhận ông Lê Văn L là bố đẻ đã chi trả khoản tiền mai táng phí 72.000.000đ không yêu cầu bị cáo hoàn trả.

Xác nhận đại diện cho bị hại không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89, 104; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng sau:

  • + 02 chiếc dép màu trắng bề mặt có bám dính chất dịch mầu nâu đỏ
  • + 01 đoạn kim loại hình trụ tròn màu trắng phần đầu đoạn kim loại có nhiều vết móp méo, trượt xước, lõm kim loại.
  • + 01 ổ khóa bằng kim loại màu vàng nhãn hiệu Việt Tiệp, bề mặt ổ khóa có nhiều vết móp méo, trượt xước, lõm kim loại cùng 01 một móc khóa treo bằng kim loại màu trắng.
  • + 01 áo cộc tay màu xám, tay áo màu đen, trước ngực áo có chữ màu đen “NKLANG”, phía sau ngực áo có chữ màu trắng “EKGS IN THE HOUSE” trên áo có nhiều vết mầu nâu đỏ đã khô.
  • + 01 quần bò dài màu đen bạc, mép túi quần trước và túi quần sau bên phải có tem “JeansHK37”, trên quần có vết mầu nâu đỏ đã khô.
  • + 01 đôi dép, loại dép xốp màu đen có chữ “smile” chiều dài 25cm.
  • + 01 bì niêm phong có 05 dấu của Viện KHHS Bộ C1 cùng các chữ ký, họ tên ở vị trí giáp lai bên trong có 01 chuôi dao bằng nhựa màu vàng, 01 lưỡi dao bằng kim loại bị gãy cán, bị cong vênh, đầu nhọn có một lưỡi sắc dài 12cm, bản rộng nhất 2cm bị gãy chuôi.

Trả lại cho đại diện của bị hại do chị Trần Ngọc L2 nhận:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Pro max đã cũ, mặt sau màu đen có số imel: 0352117351340340, gắn sim số 0352.980.350 của tử thi Trần Thị L1.

Trả lại cho bị cáo:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen, số imeil 1: 358475771068733; số imel 2: 359111891068738. Bên trong máy gắn số sim 1: 0826.556.531; số sim 2: 0971.331.881, điện thoại đã qua sử dụng, mặt phần sau camera có vết nứt vỡ.

Các vật chứng trên có tình trạng như khi bàn giao theo Biên bản giao, nhận vật chứng của Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 06/9/2024.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  • - Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, đại diện cho bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần quyền lợi liên quan để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS-TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng PC01 - CA tỉnh Phú Thọ;
  • - PV 06 Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA Dân sự, hình sự;
  • - Bị cáo, dd bị hại;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về giết người (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Cảnh - Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger