TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Thị Ánh Tuyết
Bà Huỳnh Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Khổng Phúc Vĩnh N - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1997 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp X, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện V, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày: Do quen biết sau một thời gian sau đó tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T. Cả hai có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm M, sinh ngày 04/9/2017. Thời gian đầu cả hai sống chung hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn vào nhiều năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, ông P hay ăn nhậu khong lo làm ăn và bà sống ly thân với ông P do không hàn gắng được. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không ai chủ động liên lạc hay hàn gắn tình cảm với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn bà yêu cầu:
Về hôn nhân: Xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Diễm M, sinh ngày 04/9/2017 không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận cho bà Đ được ly hôn với ông P. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Diễm M, sinh ngày 04/9/2017 cho bà Đ nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Đ và ông P theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Đ yêu cầu ly hôn với bị đơn ông P nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn. Do bị đơn có nơi thường trú tại huyện V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Đ và ông Nguyễn Thanh P xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2017 mới đăng ký kết hôn. Bà Đ xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, ông P hay ăn nhậu không lo làm ăn và bà sống ly thân với ông P do không hàn gắng được. Vì vậy, nay bà Đ xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên bà yêu cầu xin ly hôn với ông P. Mặc khác biên bản xác minh ngày 03/7/2024 tai ấp P, xã T thì việc bà Đ và ông P có sự bất đồng ý kiến và xung đột với nhau và đã ly thân vào năm 2022. Trong thời gian ly thân ông P cũng không có biện pháp cụ thể nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng và cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu ly hôn của bà Đ. Hơn nữa, bà Đ vẫn cương quyết xin ly hôn với ông P.
Xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà Đ có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án về hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Đ và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Diễm M, sinh ngày 04/9/2017. Bà Đ xin được tiếp tục nuôi đưỡng cháu M, bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung Mặc khác cháu M cũng có nguyện vọng ở với bà Đ. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu M, Hội đồng xét xử giao cháu M cho bà Đ nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét, bà Đ không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác.
[4] Về tài sản chung: Bà Đ xác định không có, ông P chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà Đ xác định không có, ông P chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét,
[6] Về án phí: Bà Phạm Thị Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[7] Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng cũng như ý kiến về việc giải quyết vụ án là có căn cứ. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các điều 28, 35, 39; khoản 1, 2 điều 227; khoản 1, 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
- Về con chung. Giao cháu Nguyễn Ngọc Diễm M, sinh ngày 04/9/2017 cho bà Phạm Thị Đ được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Thanh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Đ chưa yêu cầu.
Ông Nguyễn Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Bà Phạm Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phi theo biên lai thu số 0006954 ngày 26/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Vậy bà Đ đã thi hành xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Đ và ông P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tổng đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Đặng Nhật Trường |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P
