Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 06-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hải.
  2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tới – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Thanh N, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1979 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H (đã chết) và bà Lê Thị Kim P; có vợ tên Lê Thị Ngọc H1 (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số 33/2019/HS-ST ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt 25.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”; tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh từ ngày 21/5/2024 đến nay; có mặt.

2. Lê Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N1 (đã chết) và bà Trần Thị L (đã chết); có vợ tên Nguyễn Kim M (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 21/5/2024 đến nay; có mặt.

3. Nguyễn Văn P1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R (đã chết) và bà Phạm Thị C; có vợ tên Lê Thị H1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 21/5/2024 đến nay; có mặt.

4. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị N2 (đã chết); có vợ tên Trần Thị N3 và 01 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 21/5/2024 đến nay; có mặt.

5. Lê Tuấn A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức M1 và bà Lê Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 21/5/2024 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị N3, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 18/02/2024, Huỳnh Thanh N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn P1, Lê Tuấn A đến chòi rẫy của Lê Văn T tại tổ G, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh để nhậu. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, N rủ mọi người tham gia đánh bạc hình thức lắc tài xỉu thì T, T1, P1, A đồng ý. Tới cung cấp hột xí ngầu, đĩa sành, nắp nhựa, vỏ thùng bia viết ký hiệu “T” là tài và “X” là xỉu để đánh bạc; Nhuận làm cái lắc tài xỉu, quy định tổng số tiền đặt cược tài và xỉu của tất cả người tham gia trong một ván không vượt quá 150.000 đồng. Khi tham gia đánh bạc, người chơi có quyền lựa chọn đặt “T” hoặc “X” trên vỏ thùng bia. Tổng điểm của 03 hột xí ngầu từ 04 điểm đến 10 điểm là xỉu, từ 11 điểm đến 17 điểm là tài, tỷ lệ đặt cược thắng thua 1:1. Trường hợp 03 hột xí ngầu cho kết quả số giống nhau từ 01 đến 03 gọi là “Bão xỉu” thì người đặt cược xỉu hòa, người đặt cược tài thua và trả tiền cho người làm cái; 03 hột xí ngầu cho kết quả số giống nhau từ 04 đến 06 gọi là “Bão tài” thì người đặt cược tài hòa, người đặt cược xỉu thua và trả tiền cho người làm cái. Những lần người làm cái “Bão”, N trả cho T 20.000 đồng tiền xâu để trong vỏ lon sữa bột. Đến 20 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, Công an xã H kiểm tra phát hiện. Số tiền sử dụng đánh bạc là 7.540.000 đồng trong đó thu giữ tại chiếu bạc là 1.330.000 đồng, thu trên người các bị cáo và những người liên quan số tiền 6.210.000 đồng, cụ thể:

  • - Huỳnh Thanh N sử dụng 1.000.000 đồng làm cái, khi phát hiện thắng 510.000 đồng, đã trả tiền xâu cho T 80.000 đồng, để tại chiếu bạc 1.300.000 đồng, thu trên người 130.000 đồng.
  • - Lê Văn T sử dụng 6.600.000 đồng tham gia đặt cược, quá trình đánh bạc cho Nguyễn Văn P1 vay tiền 03 lần tổng cộng 1.000.000 đồng, thắng 400.000 đồng và được 80.000 đồng tiền xâu trong vỏ hộp sữa bột nhưng đã cho Nguyễn Văn L1, sinh năm 1962, địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh 10.000 đồng, ông L1 đã nộp lại ngày 21/02/2024. Khi phát hiện thu trên người 6.000.000 đồng và 70.000 đồng tiền xâu.
  • - Nguyễn Văn P1 mang theo 500.000 đồng tham gia đặt cược, quá trình đánh bạc vay Lê Văn T 03 lần tổng cộng 1.000.000 đồng, khi phát hiện thua hết tiền.
  • - Nguyễn Văn T1 được Đỗ Văn L2, sinh năm 1964, địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh cho 50.000 đồng mục đích đổ xăng, P1 sử dụng tham gia đặt cược, khi phát hiện thua 30.000 đồng, để tại chiếu bạc 20.000 đồng.
  • - Lê Tuấn A sử dụng 80.000 đồng tham gia đặt cược, khi phát hiện thua 50.000 đồng, để tại chiếu bạc 30.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra Huỳnh Thanh N, Lê Văn T, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T1, Lê Tuấn A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết luận giám định số 741/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 14 (mười bốn) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 500.000 đồng; 01 (một) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 200.000 đồng; 01 (một) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 100.000 đồng; 06 (sáu) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 20.000 đồng; 10 (mười) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 10.000 đồng; 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam đồng (C) mệnh giá 5.000 đồng cần giám định nêu trên là tiền thật.

Kết luận giám định số 742/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • - 01 xe mô tô loại WAVE màu sơn đỏ số khung RMNWCHFMN7H006997, số máy VZS152FMH*005308* (ký hiệu 301) có số khung và số máy không bị đục xóa.
  • - 01 xe mô tô loại Yamaha màu sơn đen số khung RLCS16S209Y053808, số máy 16S2-053815 (ký hiệu 302) có số khung và số máy không bị đục xóa.
  • - 01 xe mô tô loại Yamaha màu sơn xanh số khung RLCJ5B950AY069475, số máy 5B95069476 (ký hiệu 303) có số khung và số máy không bị đục xóa.
  • - 01 xe mô tô loại Yamaha màu sơn đỏ-đen số khung RLCS1FC10DY049871, số máy 1FC1-049894 (ký hiệu 304) có số khung và số máy không bị đục xóa.

Cáo trạng số 59/CT-VKSTB ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Huỳnh Thanh N, Lê Văn T, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T1, Lê Tuấn A về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh N, Lê Văn T, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T1, Lê Tuấn A phạm tội “Đánh bạc”;

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh N từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P1 từ 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng đến 30 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Tuấn A từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc".

Hình phạt bổ sung: Bị cáo N, T không có tài sản; bị cáo P1, T1, A đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo N, T, P1, T1, A thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo N, T, T1, A nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo P1 không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, tại chòi rẫy của Lê Văn T, địa chỉ: Tổ G, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh, T cùng với Huỳnh Thanh N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn P1, Lê Tuấn A có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi tài xỉu, tổng số tiền dùng đánh bạc là 7.540.000 đồng. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã H kiểm tra phát hiện.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 59/CT-VKSTB ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố các bị cáo có căn cứ. Tuy nhiên cáo trạng truy tố số tiền dùng đánh bạc là 8.230.000 đồng là không phù hợp. Bởi lẽ tiền đánh bạc được xác định gồm tiền thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc, thu giữ trong người các con bạc và ở những nơi khác mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc. Khi bị phát hiện thu giữ tại chiếu bạc 1.330.000 đồng; thu trên người các con bạc và người liên quan số tiền 6.210.000 đồng, tổng cộng 7.540.000 đồng; các con bạc đều xác định sử dụng số tiền này được dùng đánh bạc. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, truy tố số tiền đánh bạc là không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án mà không cần thiết phải trả hồ sơ để truy tố lại.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất ít nghiêm nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng. Các bị cáo đều là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nhưng vì mục đích thu lợi bất hợp pháp, muốn có tiền sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Mặt khác, tình hình tội phạm liên quan đến đánh bạc đang là một tệ nạn xã hội gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân và gia đình; là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác. Để thực hiện tốt việc tuyên truyền, đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn đánh bạc đang diễn biến phức tạp tại địa phương cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm; cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Tính chất của đồng phạm, mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm: Hành vi Lê Văn T cho Nguyễn Văn P1 vay tiền đánh bạc mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò, sắp đặt nhiệm vụ rõ ràng giữa những người tham gia.

[4] Xét mức độ phạm tội của từng bị cáo:

  • - Huỳnh Thanh N trực tiếp làm cái; số tiền sử dụng đánh bạc là 1.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa thi hành bản án lại tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
  • - Lê Văn T cung cấp địa điểm, công cụ để thực hiện việc đánh bạc trái phép hưởng lợi bất hợp pháp số tiền 80.000 đồng, đồng thời sử dụng 6.600.000 đồng vào mục đích đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác thể hiện tính chất, mức độ thắng thua cao hơn. Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn các bị cáo P1, T1, A.
  • - Nguyễn Văn P1 sử dụng 1.500.000 đồng, Nguyễn Văn T1 sử dụng 50.000 đồng, Lê Tuấn A sử dụng 80.000 đồng vào mục đích đánh bạc, nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Đây là tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện. Bị cáo T, P1, T1, A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[7] Hình phạt áp dụng:

[7.1] Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy;

  • - Huỳnh Thanh N từng bị kết án về tội đánh bạc nhưng không sửa chữa. Nhận thấy các hình phạt khác không có tác dụng răn đe, căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.
  • - Lê Văn T có hành vi cung cấp địa điểm, công cụ để hưởng lợi bất hợp pháp, số tiền đánh bạc lớn, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm. Bị cáo không có thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
  • Bị cáo Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T1, Lê Tuấn A sử dụng số tiền đánh bạc không lớn, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 35 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền để quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[7.2] Hình phạt bổ sung: Bị cáo N, T không có tài sản, nghề nghiệp, công việc nhất định; bị cáo P1, T1, A đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - 03 hột xí ngầu, 01 đĩa sành, 01 nắp nhựa, 01 vỏ thùng bia, 01 vỏ lon sữa bột là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng; Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
  • - Tiền Việt Nam 7.540.000 đồng thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc và trong người các bị cáo là vật chứng trong vụ án, các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc trái phép; Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - 04 xe mô tô và 04 điện thoại di động là tài sản hợp pháp của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không phải là vật chứng trong vụ án, Hội đồng xét xử trả cho chủ sở hữu hợp pháp.

[9] Nguyễn Văn L1 không biết số tiền 10.000 đồng của Lê Văn T cho do phạm tội mà có, Đỗ Văn L2 cho Nguyễn Văn T1 số tiền 50.000 đồng không biết T1 sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý là có căn cứ.

[10] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo N, T, P1, T1, A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thanh N, Lê Văn T, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T1, Lê Tuấn A phạm tội “Đánh bạc”.
  2. 1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh N 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  3. 1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Miễn việc khấu trừ thu nhập của bị cáo.

  4. 1.3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P1 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

  5. 1.4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

  6. 1.5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

  7. 2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 7.540.000 (bảy triệu năm trăm bốn mươi nghìn) đồng kèm theo Kết luận giám định số 741/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và bảng kê số seri tiền.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) hột xí ngầu; 01 (một) đĩa sành nhỏ màu trắng đục; 01 (một) nắp nhựa được quấn băng keo màu đen; 01 (một) vỏ thùng bia hiệu Crow bằng giấy có ghi ký hiệu T và X; 01 (một) vỏ lon sữa bột.
    • - Trả cho bị cáo Nguyễn Văn P1 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Wave Anpha biển số 70L6-0345 màu đỏ số khung RMNWCHFMN7H006997, số máy VZS152FMH*005308*; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu tím số Imeil 860163040006210, Imei2 860163040006202 đã qua sử dụng.
    • - Trả cho bị cáo Lê Tuấn A 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu đen biển số 70T1-6478 số khung RLCS16S209Y053808*, số máy 16S2-053815; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu tím số Imeil 865720045653059, Imei2 865720045653042 đã qua sử dụng.
    • - Trả cho bị cáo Huỳnh Thanh N 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu đỏ-đen biển số 70F1-243.76 số khung RLCS1FC10DY049871*, số máy 1FC1-049894.
    • - Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh số Imeil 352938770781198/01, Imei2 354350330781197/01 đã qua sử dụng.
    • - Trả cho bị cáo Lê Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ đen số Imei 865132046771577 đã qua sử dụng bị nứt màn hình.
    • - Trả cho chị Trần Thị N3 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha màu xanh biển số 70T2-0726 số khung RLCJ5B950AY069475*, số máy 5B95069476.

    Kèm theo Kết luận giám định số 742/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và 04 bản ảnh giám định số khung, số máy

    (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2024.

    Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;

    Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự).

  8. 3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Huỳnh Thanh N, Lê Văn T, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T1, Lê Tuấn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - Phòng KTNV.TA tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Tân Biên;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên;
  • - Phòng lý lịch - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thanh N, Lê Văn T, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn T1, Lê Tuấn A phạm tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger