Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 30 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

bà Phan Thị Gái;

bà Nguyễn Thị Luyến.

Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoài Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Như N, sinh ngày 29/8/1964 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn X, xã K, huyện V, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 7/10; con ông Nguyễn Như S (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); vợ Võ Thị P, sinh năm 1963 và có 02 con, con lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1987.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến ngày 07/02/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 10 phút ngày 29/01/2024, Tổ công tác Công an huyện V tuần tra kiểm soát tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn X, xã K, huyện V, tỉnh Quảng Trị phát hiện Nguyễn Như N đang đi bộ có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Qua kiểm tra thấy trên tay phải của Nguyễn Như N đang cầm 01 bao ni lông màu đen, bên trong có 01 bao ni lông màu trắng, chứa các cục chất rắn màu xám có kích thước khác nhau, (N khai là thuốc nổ đưa đi bón cho cây) nên Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Như N, thu giữ toàn bộ tang vật (được niêm phong trong bao lác màu trắng ký hiệu M1).

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà N ở thôn X, xã K, huyện V, Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện, thu giữ 01 bao ni lông màu vàng, bên trong là bao ni lông trong suốt đựng các cục chất rắn màu xám có kích thước khác nhau, được N giấu trong phòng ngủ của mình (được niêm phong trong bao lác màu trắng ký hiệu M2).

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Như N khai nhận:

Khoảng 6- 7 năm về trước, tại lô cao su thuộc thôn X, xã K, huyện V, N phát hiện có một quả bom bị xịt, một đầu đang cắm xuống đất, đầu kia bị vỡ ra thành các mảnh, xung quanh có thuốc nổ rơi vãi nên N thu lượm thuốc nổ đem về cất giấu để bón cho cây Hồ tiêu của gia đình.

Khoảng 19 giờ ngày 29/01/2024, Nguyễn Như N lấy khoảng 03 kg thuốc nổ (trong số thuốc nổ được thu lượm nói trên) cầm ở tay phải đi bộ theo đường liên thôn X để đưa ra vườn bón cho tiêu. Khi đang đi trên đường liên thôn xóm B, xã K thì bị Tổ công tác Công an huyện V bắt giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 275/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:

Các cục chất rắn màu xám được niêm phong trong bao lác màu trắng ký hiệu M1 gửi đến giám định là thuốc nổ, có thành phần chính là thuốc nổ Trinitrotoluen (thuốc nổ TNT), còn sử dụng được. Khối lượng 2,7kg.

Các cục chất rắn màu xám được niêm phong trong bao lác màu trắng ký hiệu M2 gửi đến giám định là thuốc nổ, có thành phần chính là thuốc nổ Trinitrotoluen (thuốc nổ TNT), còn sử dụng được. Khối lượng 4,8kg.

Tính năng, tác dụng: Thuốc nổ Trinitrotoluen (thuốc nổ TNT) có sức công phá mạnh, thường được nhồi vào bom đạn phục vụ cho mục đích quân sự, tăng cường độ phá đất đá.

Ngoài số thuốc nổ bị thu giữ, quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp, Cơ quan điều tra còn thu giữ vật chứng, đồ vật gồm:

  • - 01 (một) bao ni lông màu đen, có kích thước 25cmx33cm.
  • - 01 (một) bao ni lông màu vàng, có kích thước 30cmx35cm.
  • - 01 (một) bao ni lông trong suốt, có kích thước 35cmx35cm.
  • - 01 (một) bao ni lông màu trắng, bên ngoài có chữ B, có kích thước 30cmx35cm.
  • - 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH1923, số IMEI1: 861795047775039, số IMEI2: 861795047775021, bên trong chứa 02 (hai) thẻ sim, thẻ Sim thứ nhất có số thuê bao 0976.615.175; thẻ Sim thứ hai có số thuê bao 0373.568.065, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. (Đã trả lại cho chủ sở hữu).

Ngày 23/4/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 79/QĐ-ANĐT-Đ2, bằng hình thức: Tiêu hủy số thuốc nổ và bao gói được hoàn trả sau giám định.

Số vật chứng còn lại được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị bảo quản, chờ xử lý.

Cáo trạng số 68/CT-VKS-P1 ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Như N về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ”.

Về hình phạt chính: căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Như N từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo tuổi đã cao, nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập phụ thuộc vào nông nghiệp nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu hủy số bao gói đựng thuốc nổ, gồm: 01 (một) bao ni lông màu đen, có kích thước 25cmx33cm; 01 (một) bao ni lông màu vàng, có kích thước 30cmx35cm; 01 (một) bao ni lông trong suốt, có kích thước 35cmx35cm; 01 (một) bao ni lông màu trắng, bên ngoài có chữ B, có kích thước 30cmx35cm.
  • * Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Như N tại phiên tòa: bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 6 – 7 năm về trước, bị cáo Nguyễn Như N phát hiện một quả bom bị xịt có thuốc nổ nên bị cáo N đã thu lượm 7,5kg thuốc nổ đem về cất giấu để bón cho cây hồ tiêu của gia đình.

Ngày 29/01/2024, Nguyễn Như N đã lấy 2,7kg (trong tổng số 7,5kg mà bị cáo đã cất giấu tại nhà) thuốc nổ đi bộ theo đường liên thôn X để đưa đến vườn tiêu của gia đình nhằm mục đích bón cho tiêu thì bị bắt.

Theo Bản kết luận giám định số 275/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: các cục chất rắn màu xám được niêm phong trong bao lác màu trắng ký hiệu M1, M2 gửi đến giám định là thuốc nổ, có thành phần chính là thuốc nổ Trinitrotoluen (thuốc nổ TNT).

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” được quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 305 BLHS là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mục đích bón cho cây hồ tiêu mà thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước đối với vật liệu nổ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: bị cáo Nguyễn Như N không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đang nuôi vợ là bà Võ Thị P bị tai biến không thể đi lại, đã mất trí nhớ, không còn khả năng nhận thức. Ngoài ra, bố và mẹ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo trong quá trình sinh sống ở địa phương chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của địa phương. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng có xác nhận của chính quyền địa phương, xét thấy bị cáo có thể cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam. Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình cũng đủ răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Đối với các hành vi khác:

  • Đối với bà Nguyễn Thị Đ là người được bị cáo N thuê về chăm sóc bà Võ Thị P bị tai biến, bà Đ ở tại nhà ông N nhưng không biết việc ông N giấu thuốc nổ trong nhà và sử dụng thuốc nổ để bón cho tiêu, vì vậy không có cơ sở để xử lý.
  • Bà Võ Thị P bị tai biến, nằm một chỗ không biết hành vi việc cất giấu vật liệu nổ của Nguyễn Như N.
  • Đối với Nguyễn Như C và Nguyễn Như Đ1 (hai con trai của bị cáo N): qua xác minh tại địa phương xác định C và Đ1 đi làm ăn tại miền N từ năm 2009, thỉnh thoảng mới về quê nên không biết việc ông N cất giấu thuốc nổ trong nhà nên không có căn cứ xử lý.

[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo tuổi đã cao, nghề nghiệp chính làm ruộng, thu nhập thấp, không ổn định nên HĐXX xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

  • - Vật chứng là bao ni lông không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với vật chứng là số lượng vật liệu nổ đã có quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức tiêu hủy là đúng quy định của pháp luật.
  • - Đối với 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH1923 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan an ninh điều tra trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Như N phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Do thời hạn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú mới để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ”.
    Căn cứ khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như N: 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án (30/8/2024).
    Giao bị cáo Nguyễn Như N cho UBND xã K, huyện V, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
    * Tịch thu tiêu huỷ:
    • - 01 (một) bao ni lông màu đen có kích thước 25cm x 33cm;
    • - 01 (một) bao ni lông màu vàng có kích thước 30cm x 35cm;
    • - 01 (một) bao ni lông trong suốt có kích thước 35cm x 35cm;
    • - 01 (một) bao ni lông màu trắng, bên ngoài có chữ: Baoviet Life BẢO VIỆT NHÂN THỌ, có kích thước 30cm x 35cm.

    (Các vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 8 năm 2024)

  3. Về án phí:
    Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Như N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng KTNV;
  • - TỔ HCTP
  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Như N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger