Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 21-8-2024

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hoè.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;

Ông Đỗ Việt Hùng.

— Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

— Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn T, sinh năm 1989; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1962; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; bị cáo có vợ là chị Lương Thị N, sinh năm 1994 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/11/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản xử phạt 7 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh N.

  2. Lương Ngọc S, sinh năm 1990; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Ngọc M, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh N.

- Người chứng kiến: Ông Trương Văn T2, sinh năm 1971.

- Người làm chứng:

  1. Chị Lương Thị N, sinh năm 1994.
  2. Anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1987.

Tại phiên tòa có mặt các bị cáo, chị N; vắng mặt ông T2, anh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 17 giờ 00 ngày 22/12/2023, Phạm Văn T gọi điện cho Lương Ngọc S nhờ S mua giúp “hộp 10”- ma túy đá. Khoảng 30 phút sau, Phạm Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi màu trắng, biển kiểm soát (BKS) 18E-003.13 đến nhà đón Lương Ngọc S. Trên đường đi, Lương Ngọc S gọi điện cho một người đàn ông tên T2 (quen trên mạng xã hội Facebook) hỏi mua 9.500.000 đồng Methamphetamine, T2 hẹn S đến khu vực cổng Trường trung học phổ thông L1 thuộc thị trấn G, huyện V, tỉnh Nam Định nhận ma túy. S bảo T chuyển khoản số tiền 9.500.000 vào tài khoản của S để S trả tiền mua ma túy. Sau khi nhận được tiền từ T, S chuyển số tiền 8.000.000 đồng từ tài khoản của S cho người đàn ông tên T2 theo số tài khoản 0919731993 tên Hoàng Ngọc L mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M1). S gọi điện cho T2 thỏa thuận việc chuyển trả trước 8.000.000 đồng, sau khi sử dụng ma túy nếu ngon thì sẽ trả hết tiền, nếu không ngon sẽ trả lại ma túy và lấy lại số tiền 8.000.000 đồng.

T chở S đến điểm hẹn, ngồi trên xe đợi; S đi bộ đến trước cổng Trường trung học phổ thông L1 gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m65, dáng người gầy, đội mũ lưỡi chai, đeo khẩu trang đứng một mình, giới thiệu tên T2. T2 đưa cho S 01 vỏ bao thuốc lá CRAVEN bên trong có 02 gói kích thước (7x2) cm, cuốn bằng băng dính màu đen. S cầm 02 gói ma túy Methamphetamine vừa mua được cho T; Trịnh bỏ vào hốc cánh cửa xe bên phải và rủ S xuống Thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy.

Khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, Phạm Văn T và Lương Ngọc S đang dừng xe ô tô tại khu vực trước cổng nhà nghỉ “Thảo Thi” thuộc tổ dân phố số A, thị trấn T thì bị công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N và Công an thị trấn T phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên bàn tay phải của Lương Ngọc S 01 vỏ bao thuốc lá CRAVEN bên trong chứa 02 gói nilon đều chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu A). T và S khai nhận đó là 02 gói Methamphetamine mà T và S vừa mua, cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn tạm giữ của T xe ô tô BKS 18E-003.13; 01 căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe ô tô tên Phạm Văn T; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô; 01 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng T3; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đen. Tạm giữ của Lương Ngọc S 01 điện thoại di động Iphone 6s màu xám đen. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 104/KL - KTHS ngày 26/12/2023, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 02 gói ni lông màu trắng quấn bằng băng dính màu đen đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá C1 (niêm phong ký hiệu A) gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu A: 9,812gam.

Tại bản kết luận giám định số 114/KL - KTHS ngày 28/12/2023, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy thành phần chất ma túy Methamphetamine trong 02 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu T01, T02 gửi giám định”.

Cáo trạng số 69/CT-VKSHH ngày 05/8/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Lương Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo các bị cáo Phạm Văn T, Lương Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T, Lương Ngọc S. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 6 năm đến 06 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Lương Ngọc S từ 05 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.

Tranh luận tại phiên tòa: Các Bị cáo không tranh luận.

Nói lời nói sau cùng: Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu khác lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 ngày 22/12/2023, tại khu vực trước “Nhà nghỉ T4” thuộc tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N và Công an thị trấn T phát hiện bắt quả tang Phạm Văn T và Lương Ngọc S đang có hành vi cất giấu trái phép 02 gói Methamphetamine có tổng khối lượng 9,812 gam để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy các bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. [3] Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm của các bị cáo: Hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm hành vi của các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

  4. [4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm nhưng tính chất giản đơn. Các bị cáo cùng rủ nhau đi mua ma túy để sử dụng mà không có sự bàn bạc, phân công, chuẩn bị từ trước. Bị cáo Phạm Văn T sử dụng xe ô tô chở S, chuyển tiền cho S mua ma túy nên giữ vai trò số 1 trong vụ án. S chủ động, trực tiếp giao dịch với người đàn ông tên T2 nhận và trả tiền mua ma túy nên giữ vị trí số 2 trong vụ án.

  5. [5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Lương Ngọc S phạm tội lần đầu, là người có nhân thân tốt. Bị cáo Phạm Văn T đã từng bị kết án, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không được xác định là có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn; thái độ ăn năn, hối lỗi; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

  6. [6] Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ, vị trí vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trịnh giữ vai trò số 1, nhân thân xấu; bị cáo S nhân thân tốt, giữ vị trí số 2 trong vụ án. Vì vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các bị cáo xét cần buộc bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo S là phù hợp pháp luật.

  7. [7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, theo lời khai của các bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, các bị cáo đều nghiện ma túy, từ trước đến nay lao động chỉ đủ phục vụ nhu cầu cá nhân của bản thân, không có tài sản tích lũy. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

  8. [8] Về xử lý vật chứng:

    Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của các bị cáo 02 gói Methamphetamine và lấy 02 mẫu nước tiểu. Do các vật chứng nêu trên là vật Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

    Đối với 02 điện thoại gồm: Điện thoại di động Iphone màu xám đen, số IMEI: 359485086246329, lắp số 0947736567 thu giữ của bị cáo Phạm Văn T; điện thoại di động Iphone màu xanh đen, mặt sau bị rạn nứt, số IMEI1: 353900103065888, số IMEI2: 353900103104182, lắp sim số 0342.955.006 thu giữ của bị cáo Lương Ngọc S. Do các bị cáo sử dụng điện thoại lắp các sim số trên để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước các điện thoại và tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại của các bị cáo S, T.

    Đối với các giấy tờ khác gồm: 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] tên Phạm Văn T: Xét đây là các loại giấy tờ hợp pháp của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo T là phù hợp.

    Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe ô tô BKS 18E-003.13 là tài sản chung hợp pháp giữa bị cáo Phạm Văn T và chị Lương Thị N (vợ bị cáo). Bị cáo T cùng vợ mua xe trả góp tại Ngân hàng T3 - Chi nhánh T5 để chạy xe dịch vụ. Xét đây là tài sản chung vợ chồng, là phương tiện làm ăn sinh sống của cả gia đình bị cáo lại đang thế chấp đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng bị cáo tại Ngân hàng nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cùng các giấy tờ liên quan cho chị N sở hữu là phù hợp pháp luật.

    Người đàn ông tên T2 sử dụng số điện thoại 0916.930.xxx để liên hệ bán Methamphetamine cho S, T: Quá trình điều tra xác định, số điện thoại 0916.930.xxx đã đăng ký chính chủ tên anh Vũ Xuân D (sinh năm 1993, trú tại xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định). Qua xác minh, anh Vũ Xuân D không có mặt tại địa phương; địa phương không biết anh D1 hiện đang làm gì, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.

    Số tài khoản 0919731993 bị cáo S đã chuyển 8.000.000đồng để mua ma túy: Tên chủ tài khoản là anh Hoàng Ngọc L (sinh năm 1987, trú tại: Chợ dần, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định). Tuy nhiên, do anh L chưa đăng ký định danh nên đã bị lấy thông tin để mở tài khoản; anh L không phải là người mở và sử dụng số tài sản trên tại Ngân hàng M2 nên không phải là người nhận số tiền 8.000.000đ từ bị cáo S.

  9. [9] Quá trình điều tra xác định, Phạm Văn T đã chuyển cho Lương Ngọc S số tiền 9.500.000đ để mua ma túy nhưng S mới chỉ chuyển cho người đàn ông tên T2 số tiền 8.000.000đ. Do đó, buộc bị cáo S phải nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000₫ là phù hợp pháp luật.

  10. [10] Các bị cáo Phạm Văn T, Lương Ngọc S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Lương Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T, Lương Ngọc S. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 06 (sáu) năm tù; xử phạt bị cáo Lương Ngọc S 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2023.

  2. Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Lương Ngọc S phải nộp số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Methamphetamine trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 104/KLKTHS ngày 26/12/2023; 01 túi niêm phong số 114/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N và sim điện thoại số 0342.955.xxx của bị cáo Lương Ngọc S, sim điện thoại số 0947.736.xxx của bị cáo Phạm Văn T.
    • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu xám đen, số IMEI: 359485086246329 của bị cáo Phạm Văn T và 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đen, mặt sau bị rạn nứt, số IMEI1: 353900103065888, số IMEI2: 353900103104182 của bị cáo Lương Ngọc S.
    • Trả lại bị cáo Phạm Văn T: 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] tên Phạm Văn T.

    Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12-8-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các Bị cáo Phạm Văn T, Lương Ngọc S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THADS huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã Liên Minh;
  • - UBND xã Liên Bảo;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Hoè

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T, Lương Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger