Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15-8 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn và

nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Tuấn Kiệt
  • 2. Ông Lê Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Minh Muội– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 52/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977. Hộ khẩu thường trú: Khóm G, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Số A Đ, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Đào Anh T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số A V, khóm E, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Bà H và ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/02/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa, bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Đào Anh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A1, thành phố B vào ngày 24/11/2007. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn là bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân được 07 năm nay. Nay xét thấy vợ chồng đã không thể hàn gắn nên bà xin ly hôn với ông Anh T. Về con chung: Bà H xác định quá trình chung sống bà và ông T có 02 con chung là cháu Đào Nguyễn Thế A, sinh ngày 03/02/2009 và cháu Đào Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/9/2011, hiện đang sống với ông T. Khi ly hôn, đồng ý giao hai con cho ông T nuôi dưỡng nên không đặt ra yêu cầu nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ông Đào Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm về vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Đào Anh T. Về con chung: Giao cháu Đào Nguyễn Thế A, sinh ngày 03/02/2009 và cháu Đào Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/9/2011 cho ông Đào Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu. Bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung bà H xác định không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn với ông Đào Anh T, xét đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn có địa chỉ tại khóm E, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai nên Tòa án căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Đào Anh T có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị H xin ly hôn với ông Đào Anh T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà H trình bày quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn là bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung và đã ly thân được 07 năm nay. Nay xét thấy vợ chồng đã không thể hàn gắn nên bà xin ly hôn với ông Anh T. Ông T đã được thông báo về nội dung vụ việc xin ly hôn của bà H nhưng lại không có ý kiến trình bày nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận sự trình bày của bà H về việc mối quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T có xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà H xin ly hôn thì ông T không có ý kiến, không có thái độ đến hòa giải hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông T.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H và ông T có hai chung là cháu Đào Nguyễn Thế A, sinh ngày 03/02/2009 và cháu Đào Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/9/2011, hiện đang sống cùng ông T. Khi ly hôn, bà H đồng ý giao cả hai con chung cho ông Đào Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, ông T không có ý kiến. Thấy rằng hiện nay hai cháu vẫn đang sống với ông T vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của bà H, giao cả hai con chung cho ông T nuôi dưỡng. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không có yêu cầu. Bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung: Bà H xác định không có, ông T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[6] Về nợ chung: Bà H xác định không có, ông T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[7] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa.

[8] Về án phí dân sự: Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Đào Anh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Đào Nguyễn Thế A, sinh ngày 03/02/2009 và cháu Đào Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/9/2011 cho ông Đào Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục (Cả hai cháu đang sống cùng ông T được giữ nguyên). Bà Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Đào Anh T không yêu cầu. Bà Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà H đã dự nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0002482 ngày 14/3/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Thành phố Bạc Liêu, nay được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Án xử công khai, bà Nguyễn Thị H và ông Đào Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

-TAND tỉnh Bạc Liêu;

-VKSND thành phố Bạc Liêu;

-CCTHADS Tp. Bạc Liêu;

-UBND phường 1, Tp . Bạc Liêu;

-Đương sự;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Đào Anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger