Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 06/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền và bà Phạm Thị Minh Huyền.
  • - Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Lương Minh Nghĩa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06/8/2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 20/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 11/6/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 09/2024/HSST-QĐ ngày 09/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lầu A D; sinh ngày 08 tháng 9 năm 2000 tại Đ, Điện Biên; nơi thường trú: bản Tà Té C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lầu Giống V và bà Ly Thị S; vợ: Ly Thị Đ; có 01 con: sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” - vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.

* Bị hại: anh Trần Xuân T; sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ D, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh - có mặt.

* Người làm chứng: chị Vũ Thị Thùy L, anh Mùa A P - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 52 phút ngày 21/11/2023, Lầu A (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 27B2-282.48, trong khi đã sử dụng rượu, đi từ khu tập thể Công ty than Quang Hanh về phòng trọ. Khi đi đến đoạn Km140+900 Quốc lộ A, thuộc tổ F, phường Q, thành phố C, nơi có dải phân cách cứng chia hai chiều đường riêng biệt, D đi vào phần đường ngược chiều hướng H - V. Cùng lúc đó, xe ô tô BKS 14A-711.84 do anh Trần Xuân T điều khiển theo hướng H – Vân Đồn đi đến, nên phần đầu xe mô tô của D đã đâm vào phần đầu bên phải của xe ô tô, làm xe mô tô bị đổ, D ngã xuống đường. Hậu quả: Dơ bị thương tích; 02 phương tiện bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và dựng lại hiện trường thể hiện: nơi xảy ra tai nạn trong khu vực đông dân cư, đoạn đường H – Vân Đồn đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, rộng 19,5m, có dải phân cách cố định. Mặt đường chia 03 làn, gồm: 01 làn dành cho xe thô sơ và 02 làn cho xe mô tô, xe ô tô. Có hệ thống đèn cao áp chiếu sáng. Các dấu vết đo vào mép đường bên phải hướng H – Vân Đồn như sau: Xe ô tô 14A-711.84 đỗ ở làn đường dành cho xe ô tô, thân xe gần song song với trục đường, quay hướng Vân Đồn; tâm lốp sau bên phải cách mép đường phải 6,6m; cách mốc 10,5m; tâm lốp trước bên phải cách mép đường phải 6,4m. Vết cày xước kèm chất lỏng màu đen dạng bắn tóe trên mặt đường nằm ở khu vực trước đầu xe ô tô, dài 13m, phần rộng nhất 0,5m dạng xiên, đầu vết cày xước cách tâm lốp trước bên phải xe ô tô 02m, cách mép đường phải 07m. Đám máu màu đỏ hồng trải dài dọc trục đường kích thước (01x0,5m), ở làn đường dành cho xe ô tô về phía bên phải hướng H – Vân Đồn; tâm cách mép đường phải là 6,5m, cách đầu vết cày xước là 2,3m. Đám mảnh nhựa vỡ hỗn hợp trải dọc trục đường kích thước (07x4,5)m, nằm trên làn đường xe ô tô về phía bên phải hướng H – Vân Đồn, cách mép đường phải 7,2m; cách tâm đám máu là 2,1m. Xe mô tô 27B2-282.48 đổ nghiêng trái, đầu xe hướng về tâm đường, chếch hướng đi H; điểm tiếp xúc của sườn bên trái xe mô tô là điểm kết thúc của vết cày xước; tâm lốp trước xe mô tô cách mép đường bên phải 5,1m, cách tâm đám mảnh nhựa là 9,2m; tâm lốp sau cách mép đường bên phải là 4m. Vị trí xe ô tô thời điểm anh T quan sát thấy xe mô tô, trục bánh trước bên trái xe ô tô cách trục bánh trước xe mô tô là 39,2m; trục bánh trước và trục bánh sau cách dải phân mép đường bên phải lần lượt là 6,5m và 6,4m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện:

  • - Xe ô tô 14A-711.84: Đầu nắp capo có vết bẹp lõm, biến dạng, tróc sơn, hướng từ trước ra sau, diện (0,9x0,6)m. Mặt ca lăng bên phải xe có vết rách vỡ nhựa, biến dạng kim loại, hướng từ trước ra sau, diện (0,9x0,3)m. Đầu bên phải ba đờ sóc phía trước xe bị gãy vỡ, hướng từ trước về sau, bề mặt dính chất cao su và sơn màu đen, diện (0,35x0,25)m. Biển số phía trước xe bị cong gập hình chữ V hướng từ trước về sau, diện (0,5x0,1)m. Sắt xi phía trước đầu xe bị cong gập, biến dạng, hình chữ V, hướng từ trước về sau, diện (0,5x0,1)m, cách cạnh bên phải đầu xe là 0,6m. Két làm mát phía sau sắt xi phía trước đầu xe có nhiều vết bẹp lõm, mài xước kim loại, hướng từ trước ra sau, diện (0,3x0,3)m; tâm vùng mài xước biến dạng trên két làm mát cách mặt đất 0,6m. Đầu bên trái giáp bảo vệ phía trên két làm mát bị gãy vỡ nhựa, diện (0,7x0,2)m.
  • - Xe mô tô 27B2-282.48: Ốp chắn đồng hồ phía trước đầu xe bị bung gá chốt, rời khỏi thân xe, diện (0,3x0,2)m. Mặt nạ trước đầu xe có vết gãy giập, dài 0,05m; gá chốt mặt nạ bị bung ra khỏi vị trí ban đầu. Ốp yếm bên trái xe bị gãy vỡ hoàn toàn, rời khỏi thân xe, diện (01x0,5)m. Càng giảm xóc phía trước của xe bị đẩy cong từ trước về sau, làm trục trước lệch khỏi vị trí ban đầu 0,05m. Ốp yếm bên phải xe bị gãy vỡ hoãn toàn, rời khỏi thân xe, trên diện (01x0,5)m. Mặt lăn bên phải của lốp trước có vết trượt xước cao su, bề mặt dính bụi đất màu xám, diện (0,2x0,05)m; giữa vùng trượt xước có vết rách lốp dài 0,03m.

Cơ quan điều tra thu giữ 01 đĩa CD chứa Video do Camera của gia đình chị Nguyễn Thị Mai A ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông trên.

Theo Công văn số 164 ngày 10/01/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh Q xác nhận đã cấp Giấy phép mô tô hạng A1 cho Lầu A Dơ từ ngày 28/01/2021.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 63 ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: xe ô tô BKS 14A-711.84 bị thiệt hại tài sản là 127.000.000 đồng.

Xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Lầu A D là 38.4mmol/L.

Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông do Lầu A D điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường quy định, tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn.

Về dân sự: anh Trần Xuân T yêu cầu Lầu A bồi thường 127.000.000 đồng. Hiện Dơ chưa bồi thường.

Quá trình điều tra, Lầu A D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. D khai thêm: tối ngày 21/11/2023, D uống rượu cùng bạn là anh Mùa A P. Sau khi anh P về khu tập thể Công ty T1, D điều khiển xe đi vào phần đường ngược chiều về phòng trọ. Dơ nghĩ là trời tối, ít phương tiện qua lại, nên đã đi sát dải phân cách cứng. Khi thấy xe ô tô cách đầu xe của D khoảng 30m và nghĩ có thể lách được nên đi thẳng đâm vào đầu xe ô tô. Dơ đã được học và cấp giấy lái phép lái xe và bị rơi mất vào năm 2023.

Người làm chứng anh Mùa A P xác nhận đã uống rượu cùng L1 A Dơ vào tối ngày 21/11/2023 sau đó D điều khiển xe mô tô về nhà.

Tại bản cáo trạng số: 65/CT-VKSCP ngày 19/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, đã truy tố Lầu A D về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Lầu A (ba mươi sáu) tháng đến 39 (ba mươi chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi Thi hành án, không áp dụng hình phạt bổ sung; về dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 127.000.000 đồng (một trăm hai mươi bảy triệu).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và tại phiên tòa bị hại cũng không có ý kiến gì, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại anh Trần Xuân T. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông; bằng các dấu vết tại các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ, bản ảnh khám nghiệm xe, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; các biên bản niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; biên bản về việc đo nồng độ cồn; chất ma tuý; biên bản kiểm tra và trích sao dữ liệu Camera;; phiếu kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol của L1 A dơ là 38,4 mmol/L(máu); bệnh án khoa ngoại của Lầu A D; biên bản làm việc xác định vị trí và khoảng cách của xe ô tô 14A-711.84 với xe mô tô 27 B2-282.48. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai bị hại, lời khai người làm chứng anh Mùa A P, hình ảnh camera an ninh Cơ quan điều tra thu thập tại hiện trường khu vực xảy ra tai nạn cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã vi phạm khoản 8 Điều 8 khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của bia rượu.

Hành vi của Lầu A D đã vi phạm khoản khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu bia.

Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định:

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

...”

Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu bia quy định:

“1. Sửa đổi bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 53/2018/QH14 như sau:

“8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”

Với các chứng cứ đã nêu và các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 52 phút ngày 21/11/2023, tại đoạn đường K+900 Quốc lộ A, thuộc tổ F, phường Q, thành phố C, Lầu A điều khiển xe mô tô BKS 27B2-282.48 trong khi sử dụng rượu, đi ngược chiều vào phần đường hướng H – Vân Đồn nên đã đâm vào đầu xe ô tô BKS 14A-711.84 do anh Trần Xuân T điều khiển đi hướng H - Vân Đồn đến gây tai nạn, làm xe ô tô bị thiệt hại 127.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sư, như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có cơ sở nên chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của người tham gia giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, do đó cần xử lý bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, tại cơ quan điều tra thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc tiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên áp dụng điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[5] Về dân sự: bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 127.000.000 đồng( một trăm hai mươi bảy triệu đồng) tiền sửa xe theo đúng kết luận định giá tài sản là có cơ sở chấp nhận, cần buộc bị cáo lầu A dơ phải bồi thường cho bị hại.

[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc tiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo qui định của pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Đối với xe ô tô biển số 14A-711.84 thuộc sở hữu của anh Trần Xuân T. Còn xe mô tô xe biển số 27B2-282.48 quá trình điều tra xác định, Lầu A mua xe trả góp và vẫn thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho các chủ sở hữu.

Qua tra cứu xác định bị cáo được cấp Giấy phép lái xe số GPLX: 220216001873 loại không thời hạn; số phôi BK234631 cấp ngày 28/01/2021 song bị cáo đã là mất không giao nộp cho cơ quan điều tra nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Lầu A D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Lầu A D 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589,357,468 Bộ luật dân sự: Buộc Lầu A D phải bồi thường cho anh Trần Xuân T số tiền 127.000.000 đồng (một trăm hai bảy triệu đồng). Kể từ ngày anh Trần Xuân T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Lầu A D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí: bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự .

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Cẩm Phả;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS TP Cẩm Phả;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: HS - VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lầu A- vi phạm ATGT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger