|
TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ *** |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn,
tài sản chung, nợ chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Thanh Khiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Hồng Hạnh
- Ông Trần Long Khánh
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Võ Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Tú– Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, tài sản chung, nợ chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Kim K, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- Bị đơn: ông Lê Kim D, sinh năm 1962. Hộ khẩu thường trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Kim L, sinh năm 1978 (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt) Địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Ông Trần Văn H (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt) Địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Bà Lê Thanh T, sinh năm: 1989 có mặt
- Bà Lê Thanh T1, sinh năm: 1998 có mặt
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà K: ông Lê Văn C, luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố C.
Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Kim K trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 02 năm 2021, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án: Bà và ông Lê Kim D tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân vào năm 1988, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T, quận Ô theo quy định pháp luật. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc được hơn một năm nay, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, ông D thường xuyên đập phá nhà cửa một cách vô cớ, ông D thể hiện tính gia trưởng không cho ai trong nhà được có ý kiến, vợ chồng sống chung ít nói chuyện với nhau, cùng nhiều nguyên nhân khác, lần cải vả gần đây nhất là vào ngày 14/2/2021 ông D dùng tay đánh vào mặt bà gây thương tích nên bà phải đi cấp cứu. Nay bà K nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Kim D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống có hai con chung tên Lê Thanh T (nữ), sinh năm 1989 và Lê Thanh T1 (nữ), sinh năm 1998 hai con đã trưởng thành nên không có ý kiến về con chung.
Về tài sản chung: bà trình bà, vợ chồng khi sống chung có tài sản chung là 01 quyền sử dụng đất diện tích khoảng 2250m2, đất tọa lạc tại địa chỉ khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, khi ly hôn bà yêu cầu được chia đôi giá trị quyền sử dụng đất, bà nhận tiền và đồng ý để ông D tiếp tục canh tác phần đất. Ngoài ra vợ chồng còn có tài sản chung là căn nhà được cơ quan cấp khi còn đi làm, nhà tọa lạc tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, bà đồng ý giao lại cho ông D toàn quyền sử dụng căn nhà này với điều kiện khi nào ông không còn ở nữa thì giao lại cho bà chứ không được cho người khác sử dụng căn nhà này.
Bà thống nhất với Chứng thư thẩm định giá số: CT127/24/TĐ ngày 01/4/2024 do Công ty Cổ phần T2 định giá Thửa đất 536, tờ bản đồ số 05 loại đất CLN diện tích 2,287,80m² với đơn giá là 1.345.000đồng/m² có giá thị trường là 3.077.000.000đồng. Bà yêu cầu chia ½ tài sản là Thửa đất 536, bà nhận giá trị tài sản, bà đồng ý để Thửa đất 536 cho ông D tiếp tục sử dụng.
Đối với phần đất thuộc Thủa đất 536, ông D đã bán cho ông Trần Văn H, bà yêu cầu ông D phải trả lại ½ số tiền bán đất đã nhận từ ông H.
Về nợ chung: bà đồng ý chia đôi số nợ chung mà ông D cho rằng vợ chồng còn thiếu nợ chung của ông Cao Văn N số tiền 90.000.000đồng; ông Lê Kim N1 07 chỉ vàng 24k; bà Lê Kim L 05 chỉ vàng 24k.
Bị đơn ông Lê Kim D thì trình bày tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án: ông thống nhất với bà K về quá trình tiến tới hôn nhân và con chung như bà K trình bày là đúng. Hiện tại vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng. Nay bà K yêu cầu ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn với bà K.
Về con chung ông thống nhất vợ chồng có hai con chung tên Lê Thanh T (nữ), sinh năm 1989 và Lê Thanh T1 (nữ), sinh năm 1998 đã trưởng thành.
Đối với phần tài sản chung ông có ý kiến là việc bà K cho rằng 01 quyền sử dụng đất diện tích khoảng 2250m², đất tọa lạc tại địa chỉ khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ là tài sản chung của vợ chồng nên yêu cầu được
nhận ½ giá trị quyền sử dụng đất ông không đồng ý vì đây là tài sản riêng của ông do cha ông cho ông, hiện tại các anh em của ông đang canh tác trên phần đất này nên ông không đồng ý chia đôi phần tài sản này, ông không đồng ý với lời trình bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là phần đất này cấp cho hộ gia đình. Ông thống nhất vợ chồng còn có tài sản chung là căn nhà được cơ quan cấp khi còn đi làm, căn nhà tọa lạc tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ hiện ông đang sử dụng quản lý, ông yêu cầu được tiếp tục sử dụng căn nhà này, bà K không có quyền tranh chấp căn nhà này.
Ông có đơn yêu cầu phản tố sau:
- Ông yêu cầu bà K trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến bản thân ông và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông, do đây là tài sản riêng của ông.
- Ông yêu cầu Toà án bác toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung là Thửa đất 536 toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ vì đây là tài sản riêng của ông được gia đình ông cho và thể hiện qua đơn phản tố.
Đối với một phần đất Thửa 536 mà ông đã bán cho ông Trần Văn H, ông không đồng ý trả lại ½ số tiền cho bà K vì đây là tài sản riêng của tôi.
Về nợ chung của hai vợ chồng ông xác định lại chỉ yêu cầu toà án giải quyết như trong đơn phản tố đề ngày 25/3/2024 cụ thể như sau: nợ ông Cao Văn N2 số tiền 90.000.000đồng; nợ ông Lê Kim N1 07 chỉ vàng 24k và nợ bà Lê Kim L 05 chỉ vàng 24k ông đồng ý chia đôi số nợ chung trên, ông trả ½ nợ chung, bà K trả ½ nợ chung. Ông trình bày thêm các chủ nợ này là anh em của ông nhưng người này có ý kiến là không có yêu cầu ông trả số nợ này, nên khi nào họ có yêu cầu trả ông sẽ cùng bà K trả số nợ này.
Đối với Chứng thư thẩm định giá số: CT127/24/TĐ ngày 01/4/2024 do Công ty Cổ phần T2 định giá Thửa đất 536, tờ bản đồ số 05 loại đất CLN diện tích 2,287,80m² với đơn giá là 1.345.000đồng/m² có giá thị trường là 3.077.000.000đồng, Toà án vừa công bố ông có ý kiến sau:
Ông không đồng ý với giá trị tài sản được định giá thị trường là 3.077.000.000đồng. Ông cũng không có yêu cầu định giá trị tài sản lại của Thửa đất 536 với lý do sau: ông vẫn giữ nguyên ý kiến là Thửa đất 536 là tài sản riêng của ông được gia đình cho riêng ông.
Đối với ý kiến của bà T, bà T1 cho rằng thửa đất 536 là tài sản chung của ông và bà K là không đúng vì lúc đó các con không sinh ra và còn nhỏ nên không biết được nguồn gốc các tài sản của Thửa 536.
Ông Trình bày bổ sung thêm: Tài sản chung là căn nhà 106 vợ ông thống nhất ở biên bản hoà giải đã cho ông. Nên ông toàn quyền sở hữu giờ đòi lại thì ông không chấp nhận.
Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thanh T1, bà Lê Thanh T cùng trình bày ý kiến:
Các bà đã có gia đình riêng, nên không có ý kiến đối với vụ án của cha mẹ, đối với tài sản của cha mẹ đang tranh chấp bà T, bà T1 không có ý kiến, cũng không có yêu cầu độc lập đối với tài sản của cha mẹ, bà T1, bà T xin vắng mặt tại các lần hoà giải tiếp theo và tại phiên xét xử.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn H ông có mua một phần diện tích đất tại 108,1m² của Thửa đất 536 toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ từ ông D với giá 100.000.000đồng bằng hình thức mua bán giấy tay, khi ông mua bán với ông D không có mặt bà K, ông xác nhận không có yêu cầu độc lập trong vụ án, yêu cầu toà án xét xử vắng mặt ông.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Kim L trình bày ý kiến sau: bà là em ruột của ông Lê Kim D, ông D có mượn bà 0 chỉ vàng 24K, nhưng do là anh em ruột nên khi nào ông D trả bà thì nhận, bà có hùn vốn bằng tiền để trồng cây lâu năm và chăn nuôi với ông D, số tiền đầu tư nhiều lần bà không nhớ vì bà giao hết công việc đầu tư cho ông D, bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt bà (bút lục số 158).
Diễn biến tại phiên toà hôm nay,
Nguyên đơn bà vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu như trong đơn khởi kiện, bà K yêu cầu được ly hôn với ông D, bà yêu cầu được chia đôi tài sản chung và bà nhận ½ giá trị tài sản của Thửa đất 536, tờ bản đồ số 05 loại đất CLN diện tích 2,287,80m² với đơn giá là 1.345.000đồng/m² có giá thị trường là 3.077.000.000đồng theo Chứng thư thẩm định giá số CT127/24/TĐ ngày 01/4/2024 do Công ty Cổ phần T2 định giá với đơn giá là 1.345.000đồng/m² có giá thị trường là 3.077.000.000đồng, cụ thể bà yêu cầu nhận ½ tương ứng với số tiền bà nhận là 1.538.500.000đồng, bà đồng ý giao Thửa đất lại cho ông D tiếp tục sử dụng.
Bà yêu cầu được nhận ½ số tiền ông D bán một phần Thửa đất số 536 cho ông Trần Văn H là 50.000.000đồng. Đồng thời bà đồng ý để ông D tiếp tục sử dụng, quản lý căn nhà tọa lạc tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ, nhà được Nông trường cấp cho khi hai vợ chồng còn làm việc, khi nào ông D không ở nữa thì trả lại cho bà.
Đối với nợ chung bà đồng ý cùng ông D trả ½ số nợ chung cho ông Cao Văn N số tiền 90.000.000đồng, ông Lê Kim N1 07 chỉ vàng 24k, bà Lê Kim L 05 chỉ vàng 24k.
Bị đơn ông Lê Kim D trình bày ông đồng ý ly hôn hôn với bà Lê Kim K, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố là yêu cầu bà K trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông, không đồng ý với chia tài sản chung theo yêu cầu của bà K đối với Thửa đất 536, tờ bản số 5 toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ do đây là phần đất của cha ông cho riêng ông.
Ông không đồng ý trả lại số tiền ông đã bán đất cho ông H mà nguyên đơn yêu cầu vì phần đất này là đất của riêng ông. Ông yêu cầu được tiếp tục sử dụng, quản lý căn nhà tọa lạc tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Đối với nợ chung ông vẫn giữ nguyên yêu cầu bà K có nghĩ vụ cùng ông trả nợ chung cho ông N2, bà L, ông N1 như trong đơn phản tố.
Lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thanh T1, bà Lê Thanh T trình bày không có ý kiến đối với việc ly hôn của cha mẹ, và không có yêu cầu gì đối với tài sản của cha mẹ, do ông bà tự quyết định.
Bà Lê Kim L, ông Trần Văn H vắng mặt tại phiên toà nên không ghi nhận ý kiến cảu ông bà.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: phát biểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về quan hệ hôn nhân công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Kim K và ông Lê Kim D, chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà K tại tại Thửa đất 536 đất toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ đề nghị cho bà K được nhận ½ giá trị tài sản theo Chứng thư thẩm định giá trị Thửa đất 536 có đơn giá là 1.345.000đồng/m² có giá thị trường là 3.077.000.000đồng, bà K nhận ½ tương ứng với số tiền bà nhận là 1.538.500.000đồng, yêu cầu ông D phải hoàn trả lại số tiền 50.000.000đồng cho bà K từ việc ông bán một phần phần đất Thửa 536 cho ông H với giá 100.000.000đồng. Về phần nợ chung ông thống nhất với lời trình bày của bà K, ông không trình bày thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai phát biểu quan điểm: Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về thời hạn chuẩn bị xét xử: quá thời hạn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Toà án khắc phục vi phạm về thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử theo quy định chung. Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn của ông Lê Kim D, bà Lê Kim K, con chung không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung của các đương sự nhận thấy diện tích đất Thửa 536, tờ bản số 5 toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ thuộc tài sản chung của ông D, bà K trong thời kỳ hôn nhân, ông D trình bày đây là tài sản riêng của ông nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, nên không có cơ sở xem xét, do đó yêu cầu chia tài sản chung của bà K đối với Thửa đất 536 được chấp nhận, tuy nhiên xét yêu cầu được nhận giá trị tài sản của Thửa đất 536 theo chứng thư thẩm định mà bà K yêu cầu nhận số tiền tương ứng là 1.538.500.000đồng xét yêu cầu này nhận thấy ông Lê Kim D hiện gặp khó khăn về điều kiện kinh tế nên đề nghị Hội đồng xét xử chia đôi quyền sử dụng
đất cho ông D, bà K theo Bản trích đo địa chính số 150/VPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C là phù hợp.
Đối với căn nhà tọa lạc tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ ông D đang quản lý, bà K đồng ý giao cho ông D tiếp tục sử dụng, nên đề nghị ghi nhận.
Đối với yêu cầu ông D phải hoàn trả lại số tiền 50.000.000đồng của bà K từ việc ông bán một phần phần đất Thửa 536 cho ông H với giá 100.000.000đồng đây là phần đất thuộc tài sản chung của ông bà nên đề nghị chấp nhận yêu cầu này của bà K.
Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, Điều 58, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Đề ghị Hội đồng xét xử xem xét về hôn nhân công nhận thuận tình ly hôn của nguyên đơn và bị đơn; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận một phần (nguyên đơn đòi chia giá trị; chia hiện vật); yêu cầu phản tố của bị đơn có cơ sở chấp nhận một phần, chia hiện vật cho nguyên đơn tại vị trí B trong Bản trích đo địa chính số 150/VPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và môi trường thành phố C và buộc bị đơn ông D phải trả lại 50.000.000 đồng cho bà K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ kiện đã được thụ lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[2] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện bà Lê Kim K yêu cầu được ly hôn với ông Lê Kim D. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân: bà K và ông D tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên xem đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp nhau, vợ chồng có sự bất đồng quan điểm sống, mặc dù hai bên cũng có tạo điều kiện hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và hiện tại bà K và ông D đã sống ly thân. Hội đồng xét xử thấy nguyên đơn bà K yêu cầu ly hôn, bị dơn ông D đồng ý ly hôn với bà K đây là sự tự nguyện của đương sự nghĩ nên công nhận tự nguyện thuận tình ly hôn của bà K, ông D.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà K đối với tài sản chung của vợ chồng, bà K yêu cầu được chia và bà nhận ½ giá trị tài sản của Thửa đất 536, tờ bản đồ số 05 loại đất CLN diện tích 2,287,80m² với đơn giá là 1.345.000đồng/m² có giá thị trường là 3.077.000.000đồng theo Chứng thư thẩm định giá số CT127/24/TĐ ngày 01/4/2024 do Công ty Cổ phần T2 định giá với đơn giá là 1.345.000đồng/m² có giá thị trường là 3.077.000.000đồng, cụ thể bà yêu cầu nhận ½ tương ứng với số tiền bà nhận là 1.538.500.000đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào lời trình bày của các đương sự về quá trình tiến tới hôn nhân và quá trình hình thành tài sản của Thửa đất 536 do phía nguyên đơn cung cấp là “Hợp đồng mua bán lập ngày 29/9/2003” có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T thể hiện Thửa đất 536 được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa bà K, ông D, phía ông D cho rằng đây là tài sản riêng của ông được gia đình tặng cho riêng ông nhưng ông D không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là đúng và phù hợp, từ đó cho thấy đây là tài sản của vợ chồng hình thành sau khi kết hôn. Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì “quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng...Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Đối chiếu lời khai của các đương sự và các tình tiết của vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa là phù hợp với các quy định của pháp luật và đủ cơ sở xác định quyền sử dụng đất có diện tích đất còn lại 2179,7m² của Thửa đất 536, tờ bản số 5 toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ đứng tên hộ Lê Kim D là tài sản chung của vợ chồng nên yêu cầu được chia ½ tài sản chung của nguyên đơn bà Lê Kim K là phù hợp, nên có cơ sở xem xét. Tuy nhiên xét yêu cầu nhận ½ giá trị tài sản của Thửa đất 536, tờ bản đồ số 05 loại đất CLN có giá thị trường là 3.077.000.000đồng theo Chứng thư thẩm định giá số CT127/24/TĐ ngày 01/4/2024 do Công ty Cổ phần T2, cụ thể bà yêu cầu nhận ½ tương ứng với số tiền bà nhận là 1.538.500.000đồng, có giá chênh lệch cao hơn rất nhiều so với giá thẩm định lập ngày 12/7/2023 có giá thị trường được bà K, ông D cùng thống nhất 1.200.000.000đồng, ông D hiện có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nghĩ nên chia phần hiện vật là quyền sử dụng đất của Thửa đất 536 cho bà K được nhận và sử dụng tại vị trí B diện tích 1089,8m² theo Bản trích đo địa chính số 150/VPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C là phù hợp.
[4.1] Xét yêu cầu ông D trả lại số tiền 50.000.000đồng từ việc bị đơn bán một phần phần đất Thửa 536 cho ông Trần Văn H, căn cứ vào lời trình bày của
ông H là ông có mua một phần diện tích đất Thửa 536 từ ông D với số tiền 100.000.000đồng bằng giấy tay, ông D cũng thừa nhận có bán đất và nhận tiền từ ông H, nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, nghĩ nên cần buộc ông D hoàn trả lại cho bà K số tiền 50.000.000đồng là phù hợp.
Đối với căn nhà có địa chỉ tại số A tọa lạc tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ ông D đang quản lý, nguyên đơn đồng ý giao cho ông D tiếp tục sử dụng, bị đơn cũng đồng ý đây là sự tự thoả thuận của đương sự nên ghi nhận.
Đối với yêu cầu giải quyết phần nợ chung của nguyên đơn và bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án toà án yêu cầu và giải thích các đương sự có nghĩa vụ cung cấp họ tên, địa chỉ của những người liên quan đến nợ chung nhưng các đương sự không cung cấp theo yêu cầu của Toà án nên không có cơ sở xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là: Lê Kim N1; Cao Văn N2; Trần Văn N3; ông L1; chú N4; ông Minh Đông H1; Cô L; ông Trần Văn H; Lê Kim L thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
[5] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Kim D yêu cầu bà K trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến bản thân ông, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà K trình bày chỉ giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Thửa 536 do đang tranh chấp, bà không giữ giấy tờ nào liên quan đến bản thân ông D nên không có cở sở buộc bà K trả lại các giấy tờ liên quan đến bị đơn.
[5.1] Xét yêu cầu của bị đơn về việc bác toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung là Thửa đất 536 vì đây là tài sản riêng của ông được gia đình cho riêng ông nên không đồng ý chia ½ phần đất nay cho bà K, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là tài sản chung của vợ chồng do ông D không có chứng cứ chứng minh tài sản đang có tranh chấp là tài sản riêng. Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự: “đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”, do đó nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự; Tòa án cũng đã giải thích và ghi nhận trong biên bản hòa giải về quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án nhưng ông D không cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của ông nên yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ có cơ sở chấp nhận một phần. Cũng phù hợp với nhận định và đề nghị của đại diện Viên kiểm sát tham gia phiên toà.
[5.2] Đối với một phần đất Thửa 536 bị đơn đã bán cho ông Trần Văn H, ông không đồng ý trả lại ½ số tiền cho bà K, xét thấy ông H trình bày mua đất và đã giao tiền cho ông D với số tiền 100.000.000đồng được bị đơn thừa nhận có nhận tiền từ ông H, nên không có cơ sở xem xét yêu cầu này của bị đơn.
[5.3] Về nợ chung ông xác định lại chỉ yêu cầu toà án giải quyết như trong đơn phản tố đề ngày 25/3/2024 cụ thể như sau: nợ ông Cao Văn N2 số tiền
90.000.000đồng; nợ ông Lê Kim N1 07 chỉ vàng 24k và nợ bà Lê Kim L 05 chỉ vàng 24k ông đồng ý chia đôi số nợ chung trên, ông trả ½ nợ chung, bà K trả ½ nợ chung. Trong quá trình giải quyết vụ án toà án yêu cầu và giải thích các đương sự có nghĩa vụ cung cấp họ tên, địa chỉ của những người liên quan đến nợ chung nhưng các đương sự không cung cấp theo yêu cầu của Toà án nên không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu giải quyết phần nợ chung của bị đơn. Dành quyền khởi kiện thành vụ kiện khác cho các đương sự liên quan khi có yêu cầu.
[6] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, do yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn được chấp nhận một phần nên bà K, ông D phải chịu ½ chi phí, nguyên đơn bà Lê Kim K đã tạm nộp số tiền 4.260.000đồng nên ông Lê Kim D có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà K số tiền 2.130.000đồng.
[7] Về án phí chia tài sản chung, án phí hôn nhân sơ thẩm: nguyên đơn bà Lê Kim K, bị đơn Lê Kim D được miễn án phí phải chịu án phí theo quy định của pháp luật do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 147, Điều 217, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 27, Điều 37, Điều 33, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, Điều 59, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Kim K.
Về quan hệ hôn nhân: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Kim K và ông Lê Kim D
Về con chung: đã trưởng không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: nguyên đơn bà Lê Kim K được quyền sở hữu và sử dụng phần đất tại vị trí được ký hiệu (B) có diện tích là 1089,8m² của Thửa đất 536, tờ bản đồ số 05 đất toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số 150/VPĐKĐ Đ do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C lập ngày 31/5/2024 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG029134 số vào sổ cấp giấy H01491 đứng tên hộ ông Lê Kim D.
Buộc bị đơn ông Lê Kim D có trách nhiệm hoàn trả số tiền 50.000.000đồng cho nguyên đơn bà Lê Kim K.
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Kim D.
Về tài sản chung: bị đơn ông Lê Kim D được quyền sở hữu và sử dụng phần đất tại vị trí được ký hiệu (C) có diện tích là 1089,9m² của Thửa đất 536, tờ bản đồ số 05 đất toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số 150/VPĐKĐĐ do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C lập ngày 31/5/2024 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG029134 số vào sổ cấp giấy H01491 đứng tên hộ ông Lê Kim D. (đính kèm Bản trích đo địa chính số 150/VPĐKĐĐ).
Đương sự được quyền liên hệ Cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông Lê Kim D được quyền quản lý sử dụng căn nhà số 106 tọa lạc tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Về nợ chung không xem xét. Dành quyền khởi kiện thành vụ kiện khác cho các đương sự có liên quan khi phát sinh tranh chấp và có yêu cầu.
Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: ông Lê Kim D có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Lê Kim K số tiền 2.130.000đồng.
Về án phí chia tài sản chung, án phí hôn nhân sơ thẩm: nguyên đơn bà Lê Kim K, bị đơn Lê Kim D được miễn án phí theo quy định của pháp luật do là người cao tuổi.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết nơi bị đơn cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
* Nơi nhận:
- - VKSND huyện Thới Lai;
- - Thi hành án huyện Thới Lai;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ.
|
Lê Thanh Khiêm |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Long Khánh Lý Hồng Hạnh |
Lê Thanh Khiêm |
Bản án số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI về tranh chấp ly hôn, tài sản chung, nợ chung
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tài sản chung, nợ chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn tài sản chung nợ chung
