TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ Tỉnh Bến Tre Bản án số: 72/2024/HNGĐ - ST Ngày: 17/6/2024 V/v: “Ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mộng Linh
Bà Bùi Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 50/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị D, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Dũng E, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Ngô Thị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại tòa án – chị Ngô Thị D trình bày:
Chị và anh Phạm Văn D1 Em kết hôn vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, hôn nhân do mai mối. Trong thời gian sống chung có sinh được 03 con chung tên Phạm Văn D2, sinh ngày 18/01/1999, Phạm Văn D3, sinh ngày 20/6/2000 và Phạm Thị D4, sinh ngày 23/5/2006.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, cho đến khi cháu Phạm Văn D2 được 02 tuổi thì anh Dũng E thay đổi tính tình, thường hay chửi chị, có lúc còn đánh chị, chị và anh Dũng E thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, sống chung không còn hạnh phúc, đã sống ly thân đến nay gần 01 năm, tình cảm vợ chồng không hàn gắn lại được.
Nên nay, về hôn nhân chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn Dũng E, không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn. Về con chung Phạm Văn D2 - sinh ngày 18/01/1999, Phạm Văn D3 - sinh ngày 20/6/2000 và Phạm Thị D4 - sinh ngày 23/5/2006 hiện nay đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung có 07 công đất và 01 căn nhà, tài sản này hiện nay do anh Dũng E đang quản lý, tài sản chung chị và anh Dũng E tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết trong vụ án ly hôn này. Về nợ chung không có, nên chị không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Văn D1 Em luôn vắng mặt trong các lần hòa giải, công khai chứng cứ, xét xử nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, riêng bị đơn Phạm Văn D1 Em được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng là vi phạm khoản 16 Điều 70 và khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, 53, 56, 58, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị D, chị D được ly hôn với anh Phạm Văn D1 Em. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, chị D không có yêu cầu nên không xem xét. Về con chung Phạm Văn D2 - sinh ngày 18/01/1999, Phạm Văn D3 - sinh ngày 20/6/2000 và Phạm Thị D4 - sinh ngày 23/5/2006 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung chị D trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Về nợ chung chị D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Ngô Thị D có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Văn Dũng E. Bị đơn anh Phạm Văn D1 Em có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì xác định đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Chị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, còn anh Dũng E đã được Tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng anh D1 Em vắng mặt không lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Ngô Thị D và anh Phạm Văn D1 Em kết hôn vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, theo chị D trình bày khi cháu Phạm Văn D2 được 02 tuổi thì anh Dũng E thay đổi tính tình, thường hay chửi chị D, có lúc còn đánh chị D, chị D và anh Dũng E thường xuyên ra nhiều mâu thuẫn, sống chung không còn hạnh phúc, đã sống ly thân đến nay gần 01 năm, tình cảm vợ chồng không hàn gắn lại được. Còn anh Dũng E đều vắng mặt mỗi lần tòa triệu tập, không có lời trình bày. Bên cạnh đó, qua xác minh đối với bà Ngô Thị Tiếng 1 chị ruột của bà D thì bà T cũng cho rằng trong thời gian sống chung giữa chị D và anh Dũng E có xảy ra mâu thuẫn, cách đây mấy năm thì anh Dũng E có đánh chị D, còn cách đây vài tháng thì anh Dũng E có kêu chị D đưa tiền cho anh Dũng E để anh D1 Em đem về nhà do lúc đó chị D và anh Dũng E còn đi làm thuê ở Đồng Nai, chị D nói không có tiền thì anh D1 Em đòi đánh, giết chị D. Nên sau đó giữa chị D với anh Dủng E đã sống ly thân đến nay 01 năm. Nên nay, chị D có yêu cầu ly hôn với anh Dũng E thì Tòa cứ giải quyết cho cả hai ly hôn vì bà thấy chị D sống với anh Dũng E quá khổ, cả hai sống chung không còn hạnh phúc. Lẽ đó, có căn cứ cho thấy trong thời gian sống chung giữa chị D và anh Dũng E đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị D và anh Dũng E đã sống ly thân đến nay gần 01 năm và từ lúc chị D yêu cầu ly hôn đến nay, tình cảm vợ chồng giữa chị D và anh Dũng E vẫn không hàn gắn lại được, điều này chứng tỏ cuộc sống hôn nhân giữa chị D và anh Dũng E đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên nay chị D có yêu cầu được ly hôn với anh D1 Em là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi ly hôn, chị D không yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[3] Về con chung: Chị D trình bày trong thời gian sống chung giữa chị D và anh Dũng E có sinh được 03 con chung tên Phạm Văn D2 - sinh ngày 18/01/1999, Phạm Văn D3 - sinh ngày 20/6/2000 và Phạm Thị D4 - sinh ngày 23/5/2006. Con chung đều đã trưởng thành, chị D không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị D trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Còn anh D1 Em vắng mặt, không có ý kiến trình bày, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết về tài sản chung do không có yêu cầu.
[5] Về nợ chung: Chị D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Còn anh D1 Em vắng mặt, không có ý kiến trình bày, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 177, 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 59, 115 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị D đối với anh Phạm Văn Dủng E. Chị Ngô Thị D được ly hôn với anh Phạm Văn Dũng E.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không đặt vấn đề xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
- Về con chung: 03 con chung tên Phạm Văn D2 - sinh ngày 18/01/1999, Phạm Văn D3 - sinh ngày 20/6/2000 và Phạm Thị D4 - sinh ngày 23/5/2006 đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị D trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Chị D trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Thị D phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003720 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Như vậy án phí chị D đã nộp xong.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 72/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 72/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D
