Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 72/2023/HS-ST

Ngày: 04/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Bích Liên;
  2. Ông Nguyễn Quốc Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2023/HSST ngày 20/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 374/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B; giới tính: Nam; sinh ngày 22/10/1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G, đường P, khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Thanh L, sinh năm 1973; anh, chị, em ruột: Không; vợ, con: Không; tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 12/12/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 202/2016/HSST. Nguyễn Văn B chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2018 và đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Ngày 07/3/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 27/2019/HSST. Nguyễn Văn B chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2022 và đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Nhân thân:

- Ngày 05/9/2007, bị Công an phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, theo Quyết định số 0011996/QĐ-XPHC. Nguyễn Văn B đã nộp phạt theo quy định vào ngày 16/10/2007.

- Ngày 01/4/2015, bị Công an xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 160/QĐ-XPVPHC. Nguyễn Văn B đã nộp phạt theo quy định vào ngày 06/4/2015.

Bị cáo Nguyễn Văn B bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2023 - Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Đoàn Thị Tuyết D, sinh năm 1982; địa chỉ: 8 D, Khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 05/01/2023, Lê Kim T gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn B đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. B đồng ý, nên T thuê xe honda ôm đến hẻm S, đường P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh gặp B. B mang theo 01 cây kim thủy lực (loại bơm dầu), rồi điều khiển xe môtô biển số 59L2-733.25 chở T đi trên đường H hướng từ Quận G đi đến huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước nhà trọ số H, đường D, khu phố D, thị trấn N, huyện N, thì B và T phát hiện bên trong hành lang của nhà trọ có 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại ViSion, biển số 95H1-622.42 của chị Đoàn Thị Thúy D1 nên B dừng xe lại quan sát. Thấy không có người trông coi, nên B điều khiển xe chạy thêm một đoạn khoảng 14m thì dừng lại và lấy cây kìm thủy lực đưa cho T làm công cụ cắt phá ổ khóa cửa rào nhà trọ. Sau khi cắt ổ khóa, T mang cây kìm thủy lực đưa lại cho B; T quay lại mở cửa rào nhà trọ và đến gần xe môtô biển số 95H1-622.42 kiểm tra. Thấy xe không khóa cổ, nên T dẫn lùi xe ra ngoài hẻm, đến vị trí B đang đứng chờ cảnh giới. Lúc này, B điều khiển xe môtô biển số 59L2-733.25, còn T ngồi trên xe môtô biển số 95H1-622.42 để cho B đẩy đi. Cả hai mang chiếc xe môtô biển số 95H1-622.42 đến khu vực hẻm S, đường P, phường P, Quận G để cất giấu. Sau khi giấu xe, B điều khiển xe môtô biển số 59L2-733.25 về nhà B; còn T thuê xe ôm về nhà. Trên đường về nhà, T bị Công an phường P, Quận G tiến hành kiểm tra hành chính và đã khai nhận trước đó T cùng B thực hiện hành vi trộm cắp xe môtô biển số 95H1-622.42 tại huyện N; đồng thời chỉ địa điểm nơi cất giấu xe, còn B đã bỏ trốn. Vụ việc, sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thụ lý theo thẩm quyền.

Riêng Nguyễn Văn B sau khi cùng Lê Kim T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bỏ trốn. Quá trình điều tra truy xét đến ngày 20/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã bắt tạm giam được Nguyễn Văn B về tội trộm cắp tài sản. Lời khai của Nguyễn Văn B phù hợp với lời khai của Lê Kim T, người bị hại, người liên quan và vật chứng thu giữ (BL: 48- 66).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Văn B đã thừa nhận toàn bộ hành vi như trên.

Theo Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTTHS ngày 09/01/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N (BL 68), kết luận: 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại ViSion, biển số 95H1-622.42, số khung: RLHJK0318MZ008223, số máy: JK03E5214469, màu xanh đen, tình trạng xe đã qua sử dụng, mua mới vào đầu năm 2021, được định giá là 30.800.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Đoàn Thị Tuyết D đã nhận lại chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại ViSion, biển số 95H1-622.42, nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử Nguyễn Văn B.

Tại Bản cáo trạng số: 71/CT-VKS-NB ngày 18/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về dân sự: Chị Đoàn Thị Tuyết D đã nhận lại chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại ViSion, biển số 95H1-622.42, nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử Nguyễn Văn B.

Xử lý vật chứng: Đã xem xét giải quyết theo Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè khi xét xử Lê Kim T.

Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, tại nhà trọ số H, đường D, khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn B và Lê Kim T đã thực hiện hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại ViSion, biển số 95H1-622.42, trị giá 30.800.000 đồng của chị Đoàn Thị Tuyết D. Năm 2016 bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đến năm 2019 bị cáo lại tái phạm và tiếp tục bị xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội này. Đến nay, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 05/01/2023. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố là đúng người, đúng tội.

Bị cáo là người thành niên, có khả năng lao động nhưng đã cố tình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt và xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn cố tình tái phạm. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Chị Đoàn Thị Tuyết D đã nhận lại chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại ViSion, biển số 95H1-622.42 và không yêu cầu khác. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Đã xem xét giải quyết theo Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè khi xét xử Lê Kim T.

[6] Đối với Lê Kim T, ngày 22/6/2023 Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã xét xử và tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 26/2023/HS-ST.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.

2. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị D2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2023/HS-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 72/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger