TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2025/HS-ST Ngày: 13/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Mười .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Minh Tân
- Bà Lê Đinh Thị Thanh Thủy.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngai, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
* Họ và tên bị cáo: Trương Đức A, sinh ngày 12/02/1994, tại tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: Tổ E, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đình C, sinh năm 1961 và bà Trương Thị Xuân B, sinh năm 1962; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Chị Nguyễn Nhi Phương T, sinh năm 2006; địa chỉ: Số B V, tổ E, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 02/01/2025, Trương Đức A thuê một người đàn ông làm nghề lái xe ôm đi từ phòng trọ của mình tại địa chỉ hẻm F đường T thuộc tổ G, phường N, thành phố Q, đến hẻm Đ, thành phố Q. Khi đến đầu hẻm, A nói người lái xe ôm đứng đợi còn A đi vào bên trong hẻm hỏi mua một tép ma túy đá với giá 400.000 đồng từ một người đàn ông (không xác định được họ tên, địa chỉ). Anh cất giấu ma túy trong người rồi đi bộ ra gặp người lái xe ôm chở A về phòng trọ. Anh cất giấu ma túy đá tại giường ngủ của mình nhằm mục đích sử dụng.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, Công an phường N tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng trọ của Trương Đức A, phát hiện, tạm giữ và niêm phong một đoạn ống nhựa không màu, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Anh khai nhận là ma túy) và một bộ dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 41/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong đoạn ống nhựa không màu trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu 0,106 gam.
Cáo trạng số 30/CT-VKSQN-P1 ngày 05/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Trương Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trương Đức A từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) ống thủy tinh không màu, một đầu được uốn cong, kích thước dài 14cm x đường kính 0,5cm; 01 (một) chai nhựa có nắp màu trắng trên nắp chai có đục 02 lỗ tròn, chai nhựa cao 22cm.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản sự việc, Bản Kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/01/2025, tại phòng trọ của Trương Đức A ở hẻm F đường T, thuộc tổ G, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Trương Đức A có hành vi tàng trữ 0,106 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của Trương Đức A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo là là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang lo sợ. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa, bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh bị cáo có ông ngoại Trương Văn T1 là người được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chống Mỹ cứu nước, được Bộ V - Thông tin tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp văn hóa quần chúng; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) ống thủy tinh không màu, một đầu được uốn cong, kích thước dài 14cm x đường kính 0,5cm; 01 (một) chai nhựa có nắp màu trắng trên nắp chai có đục 02 lỗ tròn, chai nhựa cao 22cm.
[6] Về các nội dung khác: Đối với đối tượng bán ma túy cho Trương Đức A, bị cáo khai không biết được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin để tiến hành xác minh, làm rõ. Đối với người lái xe ôm, bị cáo khai không biết thông tin nhân thân, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin, tài liệu để tiến hành xác minh.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Về án phí: Bị cáo Trương Đức A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
- Tuyên bố các bị cáo Trương Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Xử phạt bị cáo Trương Đức A 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
01 (một) ống thủy tinh không màu, một đầu được uốn cong, kích thước dài 14cm x đường kính 0,5cm; 01 (một) chai nhựa có nắp màu trắng trên nắp chai có đục 02 lỗ tròn, chai nhựa cao 22cm.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Trương Đức A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Mười |
Bản án số 72/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 72/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Đức A tàng trữ trái phép chất ma túy
