Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 20 – 9 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Văn Duẩn.
  2. Bà Phan Thị Duệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST – HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lô Anh N, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Xuân Q và bà Lô Thị H; có vợ là Đàm Thị G và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024; tạm giam: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  2. Họ và tên: Vi Văn H1, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1985 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T (đã chết) và bà Lô Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024; tạm giam: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  3. Họ và tên: Lô Văn Đ, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1986 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn V (đã chết) và bà Lô Thị B; có vợ là Vi Thị H2 và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024; tạm giam: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  4. Họ và tên: Vi Văn T2, tên gọi khác: Không; sinh năm: 2001 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn S và bà Lê Thị H3; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024; tạm giam: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  5. Họ và tên: Lô X, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1996 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Xuân Q và bà Lô Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024; tạm giam: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Người làm chứng: Anh Vi Văn T3, sinh năm: 1983. Trú tại: bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 07/6/2024 Lô A N đi dự đám cưới người quen ở cùng bản Kẻ Tằm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tại đám cưới N gặp Vi Văn H1 sau khi nói chuyện N rủ H1 tham gia đánh bạc và được H1 đồng ý tham gia, cả hai thống nhất hẹn nhau về nhà ở thuộc quyền quản lý của bà Lô Thị T1 (mẹ đẻ của H1) để đánh bạc, N tiếp tục rủ thêm Vi Văn T2 cùng đến để đánh bạc, sau đó N và T2 đi về nhà của bà T1 trước, đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày H1 về nhà, sau một lúc có thêm Lô Văn Đ tới, tại đó N là người rủ Đ, T2, H1 cùng tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền Ngân hàng N1 và tất cả đều đồng ý tham gia, H1 lấy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài có sẵn từ trước trong nhà ra để mọi người đánh bạc.

Cách thức đánh bạc bằng hình thức “liêng” các đối tượng tham gia đánh bạc quy ước với nhau như sau: Mỗi người chơi được chia 03 (ba) quân bài, về cách tính thắng, thua, được tính cao nhất là “sáp” gồm 03 quân bài có cùng số, nếu người chơi cùng có “sáp” thì tính theo thứ tự quân bài từ bé đến lớn để tính thắng thua (nhỏ nhất là quân 2, lớn nhất là quân Át), tiếp theo là “liêng” gồm 03 quân bài liên tiếp nhau cùng chất (cơ, rô, chuồn, bích) theo thứ tự số tiến, nếu người chơi đều có “liêng” thì so sánh quân bài lớn hơn như cách tính “sáp”, nếu quân bài lớn nhất có cùng số thì xét đến chất bài theo thứ tự cơ, rô, chuồn, bích, tiếp theo là “ảnh” gồm 03 quân bài hình người J,Q,K nếu người chơi cùng có “ảnh” thì so sánh quân bài từ thấp đến cao theo thứ tự J,Q,K nếu quân bài lớn nhất bằng nhau thì xét đến chất bài theo thứ tự cơ, rô, chuồn, bích, cuối cùng là là cách tính điểm thắng thua sẽ lấy 03 quân bài được chia cộng lại (trong đó các quân bài 10,J,Q,K được tính là 0 điểm, Á là 01 điểm, các quân bài còn lại được tính theo con số ghi trên quân bài trong đó lớn nhất là quân bài 09 điểm) sau khi cộng điểm 03 quân bài được chia ai lớn điểm hơn sẽ thắng, nếu có số điểm bằng nhau sẽ không xét đến chất bài mà những người cao điểm bằng nhau chia đều số tiền thắng cược cho nhau. Khi bắt đầu chơi mỗi người chơi tham gia ván bài đều bắt buộc đặt cược số tiền 10.000đ (mười nghìn đồng) đây gọi là tiền “sàn”, sau khi được chia bài, những người chơi có quyền lựa chọn các phương án sau:

“Úp bài”: Nếu người chơi tự dự đoán rằng quân bài của mình khó có khả năng thắng được quân bài của người chơi khác thì sẽ bỏ cuộc ván bài đó và mất số tiền đã đặt “sàn” trước đó.

“Theo”: Nếu người chơi tự dự đoán quân bài mình có khả năng thắng thì người chơi sẽ tiếp tục đặt cược thêm số tiền không quá 10.000đ (mười nghìn đồng) vào số tiền đặt “sàn” trước đó.

“Phạt”: Người chơi được đặt thêm tiền cược cao hơn số tiền của những người đã đặt cược trước đó, số tiền “phạt” không giới hạn và giao động mức từ 50.000₫ (năm mươi nghìn đồng) đến 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng). Người nào có bài lớn hơn sẽ thắng cược toàn bộ số tiền đã đặt “sàn” “theo” và “phạt” trước đó.

Khi các đối tượng đánh bạc được một lúc thì có Lô Xuân H4 đến và cùng tham gia đánh bạc, trong lúc các đối tượng đánh bạc có anh Vi Văn T3 là hàng xóm sang chơi và thấy các đối tượng đang đánh bạc nên đứng xem, anh T3 không tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi các đối tượng đang sát phạt nhau thì bị lực lượng Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang, tiến hành lập biên bản thu giữ tại chiếu bạc những vật chứng gồm số tiền 5.440.000đ (Năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) và 52 quân bài tú lơ khơ, ngoài ra Vi Văn H1 tự nguyện khai nhận, giao nộp thêm số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), như vậy tổng số tiền các đối tượng thừa nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.940.000đ (tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền các đối tượng sử dụng tham gia vào mục đích đánh bạc như sau, Lô A N sử dụng 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Vi Văn H1 sử dụng 4.000.000đ (bốn triệu đồng), Lô Văn Đ sử dụng 3.180.000đ (ba triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), Vi Văn T2 sử dụng 260.000đ (hai trăm sáu mươi nghìn đồng), Lô Xuân H4 sử dụng 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, lập ngày 07/6/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định tại thời điểm bắt quả tang vật chứng trong vụ án được niêm phong bao gồm:

Số tiền 5.440.000đ (năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1, được niêm phong trong một phong bì thư dán kín có chữ ký xác nhận của của các bên có mặt.

52 (năm mươi hai) quân bài tu lơ khơ từ Át (A) đến K (K) màu xanh trắng, được niêm phong trong một phong bì thư dán kín có chữ ký xác nhận của của các bên có mặt.

Tại biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu được lạp ngày 07/6/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định tạm giữ từ Vi Văn H1 số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), (gồm 07 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 500.000 đồng).

Bản cáo trạng số: 72/CT-VKS-QC ngày 27/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố các bị cáo Lô Anh N, Vi Văn H1, Lô Văn Đ, Vi Văn T2Lô Xuân H4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Lô Anh N, Vi Văn H1Lô Văn Đ mỗi bị cáo từ 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Xử phạt các bị cáo Vi Văn T2Lô Xuân H4 mỗi bị cáo từ 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

Buộc các bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ.

Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.940.000đ (tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng) được niêm phong gửi tại kho bạc nhà nước Q2 theo quy định.

Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản giao nhận tài sản; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của các bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 16 giờ 40 phút, ngày 07/6/2024 tại nhà ở thuộc quyền quản lý của bà Lô Thị T1 tại bản Kẻ Tằm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trong lúc các bị cáo Lô Anh N, Vi Văn H1, Lô Văn Đ, Vi Văn T2Lô Xuân H4 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền ngân hàng N1 thì bị lực lượng Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền sử dụng để đánh bạc là 5.440.000đ (năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) và 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ, ngoài ra bị cáo Vi Văn H1 tự nguyện giao nộp thêm số tiền bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), tổng số tiền các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung là 8.940.000đ (tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra xác định được số tiền các bị cáo sử dụng tham gia vào mục đích đánh bạc như sau: Lô Anh N sử dụng 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Vi Văn H1 sử dụng 4.000.000đ (bốn triệu đồng), Lô Văn Đ sử dụng 3.180.000₫ (ba triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), Vi Văn T2 sử dụng 260.000đ (hai trăm sáu mươi nghìn đồng) và Lô Xuân H4 sử dụng 750.000₫ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng của xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh xã hội chung tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, nên khi lượng hình cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ tham gia thực hiện hành vi phạm tội của mỗi bị cáo để nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đó là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước, không có người cảnh giới, tổ chức thu tiền hồ hay cung cấp các dịch vụ để phục vụ những người tham gia đánh bạc, do đó khi lượng hình cần xem xét đến vai trò, mức độ tham gia, số tiền sử dụng đánh bạc, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của của mỗi bị cáo để đưa ra mức án phù hợp, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, đồng thời đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo Lô Anh N là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia đánh bạc và tham gia đánh bạc từ đầu với số tiền là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo Vi Văn H1 là người tích cực hưởng ứng, giúp sức tạo điều kiện cho các đối tượng đánh bạc, cũng là người tham gia đánh bạc từ đầu với số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) nên xem xét hai bị cáo Lô Anh NVi Văn H1 đều có vai trò, mức độ chịu trách nhiệm hình sự như nhau là phù hợp. Các bị cáo Lô Văn ĐVi Văn T2 đều có vai trò như nhau, cùng tích cực hưởng ứng tham gia đánh bạc từ đầu cho đến lúc bị bắt, trong đó bị cáo Đ sử dụng số tiền đánh bạc lớn thứ hai 3.180.000đ (ba triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), bị cáo T2 sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất là 260.000₫ (hai trăm sáu mươi nghìn đồng), do đó cần xem xét buộc bị cáo Đ chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T2. Bị cáo Lô Xuân H4 đến tham gia đánh bạc sau khi các bị cáo khác đã đánh và sử dụng số tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đánh bạc, do đó xem xét buộc bị cáo H4 chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất so với các bị cáo khác là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Địa điểm căn nhà nơi các bị cáo tổ chức đánh bạc được xác định là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của bà Lô Thị T1 (mẹ đẻ bị cáo Vi Văn H1), tại thời điểm các bị cáo tổ chức đánh bạc cho đến khi bị bắt bà Lô Thị T1 không có mặt ở nhà, không có ai xin phép hoặc thông báo cho biết về việc các bị cáo đánh bạc tại nhà ở của mình, bà T1 hoàn toàn không có lỗi nên không xem xét đến trách nhiệm của bà T1 là có căn cứ.

[7] Về vật chứng: Đối với 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ được xác định là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 8.940.000đ (tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng) được xác định là phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội đánh bạc, do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.

[8] Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lô Anh N 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

    Xử phạt bị cáo Vi Văn H1 27.000.000₫ (hai mươi bảy triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

    Xử phạt bị cáo Lô Văn Đ 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

    Xử phạt bị cáo Vi Văn T2 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

    Xử phạt bị cáo Lô Xuân H4 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

  2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín được niêm phong đúng quy định, bên trong chứa 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ từ Át (A) đến K (K), mặt trước phong bì ghi “Vật chứng bộ bài tú lơ khơ thuộc vụ Đánh bạc xảy ra ngày 07/6/2024 tại bản Kẻ Tằm, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”. (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 27/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng đánh bạc là 8.940.000đ (Tám triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng). (Vật chứng được gửi bảo quản tại Kho bạc nhà nước Q2, theo biên bản giao nhận tài sản ngày 12/8/2024 giữa Công an huyện QKho bạc Nhà nước Q2, có bảng kê chi tiết tài sản giao nhận kèm theo).

  3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Lô Anh N, Vi Văn H1, Lô Văn Đ, Vi Văn T2Lô Xuân H4 chịu án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, NA;
  • - Bị cáo;
  • - lưu HS, VP;

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hà Văn Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lô Anh N cùng Vi Văn H, Lô Văn Đ, Vi Văn T và Lô Xuân H cùng nhau tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh "liêng", tổng số tiền các bị cáo thừa nhận và chứng minh được đưa vào đánh bạc là 8.940.000đ (tám triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger