|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày 20-06-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Xuân Kim và bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 21/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 03/06/2024; Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên tòa số 02/TB-TA ngày 13/06/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Q -Sinh năm: 1999 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện C, TP Hà Nội
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;
Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Bố đẻ: Nguyễn Văn P - Sinh năm 1973;
Mẹ đẻ: Bùi Thị H - Sinh năm 1971;
Vợ, con: Không;
Tiền án, tiền sự: Không;
D chỉ bản số 37 do Công an huyện C lập ngày 16/01/2024.
Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.( có mặt)
2. Họ và tên: Trịnh Đức T - Sinh năm: 1997 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không;
Nơi cư trú: thôn S, xã T, huyện C, TP Hà Nội
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;
Văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Bố đẻ: Trịnh Đức T1 - Sinh năm 1960;
Mẹ đẻ: Nguyễn Thị S - Sinh năm 1962;
Bị can là con nhỏ nhất trong gia đình có 03 chị em.
Vợ, con: Không;
Tiền án, tiền sự: Không;
D chỉ bản số 38 do Công an huyện C lập ngày 16/01/2024.
Nhân thân: Trịnh Đức T đã tự nguyện cai nghiện ma túy từ ngày 07/10/2020 đến 07/4/2021 và chấp hành xong Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 344 ngày 10/8/2022 của UBND xã T, chấp hành xong ngày 10/8/2023 theo Quyết định số 04 ngày 18/8/2023.
Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.( có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 10/01/2024, tại khu vực gần nhà Trịnh Đức T (Sinh năm 1997; ở thôn S, xã T, huyện C, TP Hà Nội), tổ công tác Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, phát hiện đối tượng T đưa cho Hoàng Phi L (SN 2001; HKTT: TDP X, TT X, huyện C, TP Hà Nội) 01 (một) túi nghi chứa ma túy đá. Khi L nhận túi ma túy cầm ở trên tay, thì tổ công tác lực lượng Công an huyện C bắt giữ quả tang Thêm bán túi ma túy cho L. Ban đầu T khai nhận túi ma túy của T bán cho L lấy 500.000 đồng. Tổ công tác Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
* Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Hoàng Phi L:
- + 01 (một) túi nilong màu trắng, kích thước (1x1) cm, bên ngoài bọc bằng băng dính màu đen và giấy màu trắng, trong cùng có chứa tỉnh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá (niêm phong ký hiệu mẫu số 01).
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám (đã qua sử dụng).
- Thu giữ của Trịnh Đức T:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu hồng (đã qua sử dụng).
- + Tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng có được từ việc bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Phi L.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an huyện C, Hà Nội đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Đức T ở thôn S, xã T, huyện C, TP Hà Nội. Tiến hành thực hiện Lệnh bắt khẩn cấp và khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Q ở thôn N, xã N, C, Hà Nội, đã thu giữ được vật chứng sau:
- Quá trình khám xét nơi ở của Trịnh Đức T phát hiện thu giữ:
- + 01 (một) túi nilong màu trắng, kích thước (1x1) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá (niêm phong ký hiệu mẫu số 02).
- + 01 (một) coóng thủy tinh màu trắng (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) bật lửa gas màu trắng (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) vỏ chai nhựa nhãn hiệu RED DRAGON, nắp chai màu trắng, trên nắp có đục 02 lỗ (đã qua sử dụng).
- Quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Q phát hiện, thu giữ:
- + 02 (hai) túi nilong màu trắng viền đỏ, đều có kích thước (2x5) cm, đã qua sử dụng; 02 (hai) túi nilong màu trắng viền xanh, đều có kích thước (1x1) cm, đã qua sử dụng và 01 (một) coóng thủy tinh, đã qua sử dụng (niêm phong ký hiệu mẫu số 03).
- + 01 (một) cuộn băng dính màu đen (đã qua sử dụng),
- + 11 (mười một) và túi nilong màu trắng, viền xanh đều có kích thước (1x1) cm (chưa qua sử dụng).
- + 01 (một) bình thủy tinh màu trắng gắn ống hút nhựa màu tím vàng (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen (đã qua sử dụng).
- + Tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng có được từ việc bán trái phép chất ma túy cho Trịnh Đức T.
Tại Kết luận giám định số 655/KLGĐ-PC09 ngày 18/1/2024 của Phòng K - Công an T kết luận:
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông, bên ngoài bọc băng dính màu đen và giấy màu trắng (ký hiệu mẫu số 01) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,019 gam.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông (ký hiệu mẫu số 02) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,012 gam.
- - 01 coóng thủy tinh và 04 túi nilông (ký hiệu mẫu số 03) đều có bám dính ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra vụ án, Hoàng Phi L, bị can Trịnh Đức T và Nguyễn Văn Q khai nhận:
Nguyễn Văn Q (Sinh năm 1999; ở thôn N, xã N, huyện C, TP Hà Nội) với Trịnh Đức T (Sinh năm 1997; trú tại thôn S, xã T, huyện C, TP Hà Nội) có quen biết nhau từ trước. Thêm là người sử dụng ma túy, thỉnh thoảng T mua ma túy về cất giấu để sử dụng, ai hỏi mua thì bán lại để kiếm lời.
Ngày 09/01/2024, Quyên bán cho T 01 túi nilon chứa ma túy loại Methamphetamine giá 200.000 đồng. T cầm cất giấu túi ma túy ở trong nhà để sử dụng và để bán. Thêm đã lấy một phần ra sử dụng, phần còn lại vẫn để trong túi nilon cất giấu trong nhà.
Đến khoảng hơn 10 giờ ngày 10/01/2024, T đang ở nhà, thì Hoàng Phi L nhắn tin, gọi điện thoại qua ứng dụng messenger từ tài khoản “Hoàng Phi L” đến tài khoản “Thêm Z” cho T để hỏi mua 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền ma túy tổng hợp dạng đá. T đồng ý bán và bảo L chuyển trước tiền vào tài khoản số 8820123472008 tại Ngân hàng M, mang tên Trịnh Đức T, rồi đến gần khu vực nhà T nhận ma túy. L chấp nhận và chuyển khoản số tiền 500.000 đồng từ tài khoản số [...], Ngân hàng M của L đến tài khoản của T. Sau đó, L đi một mình đến điểm hẹn ở trước cửa nhà T.
Sau khi hẹn bán ma túy và nhận được tiền của L chuyển đến tài khoản, T nhắn tin và gọi điện qua ứng dụng messenger hỏi Nguyễn Văn Q tài khoản “Quyên Hip”. Thêm hỏi mua 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền ma túy tổng hợp dạng đá, được Q đồng ý bán ma túy cho T. Q bảo T chuyển khoản tiền đến số tài khoản 0925878628, tại Ngân hàng M mang tên Trần Thị Kim A (Số tài khoản này Quyên sử dụng, vì Kim A là bạn gái đang sống cùng Q). Nhận được tiền chuyển khoản, Q hẹn T đến khu vực cửa nhà Q để nhận ma túy.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T đi đến cửa nhà Q và sử dụng điện thoại di động nhảy máy cho Q biết. Khi Q mở cửa tầng hai bước ra ban công nhìn xuống thấy T đứng ở phía dưới, thì Q cầm 01 (một) túi ma túy tổng hợp dạng đá vứt xuống dưới đất cho T nhặt lấy. Mua được túi ma túy, T cầm giấu trong người rồi đi về nhà để bán lại cho L nhằm hưởng lợi 200.000 đồng.
Đến khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày, L đến địa điểm hẹn gặp tại khu vực gần nhà T, được đưa cho L 01 (một) túi ma túy đá. L nhận túi ma túy đá cầm trên tay, thì bị lực lượng Công an huyện C làm nhiệm vụ phát hiện, bắt giữ quả tang Thêm và L, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Sau khi Trịnh Đức T và Nguyễn Văn Q bị bắt giữ. Thêm và Q đã khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy nêu trên. Quyên tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng; Thêm tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng là tiền bán ma túy.
* Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và các đối tượng Trịnh Đức T, Hoàng Phi L, ký hiệu Mẫu số 01;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu hồng (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký niêm phong của Giám định viên và đối tượng Trịnh Đức T, niêm phong ký hiệu Mẫu số 02.
- - 01 (một) coóng thủy tinh màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) bật lửa gas màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) vỏ chai nhựa nhãn hiệu RED DRAGON, nắp chai màu trắng, trên nắp có đục 02 lỗ (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và đối tượng Nguyễn Văn Q, niêm phong ký hiệu Mẫu số 03.
- - 01 (một) cuộn băng dính màu đen (đã qua sử dụng).
- - 11 (mười một) vỏ túi nilong màu trắng, viền xanh đều có kích thước (1x1) cm (chưa qua sử dụng).
- - 01 (một) bình thủy tinh màu trắng gắn ống hút nhựa màu tím vàng (đã qua sử dụng).
- - Số tiền 700.000 đồng, tiền Ngân hàng N đang lưu hành.
Các bị can Nguyễn Văn Q và Trịnh Đức T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 69/CT-VKS - CM ngày 21/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; Bị cáo Trịnh Đức T tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn Q, Trịnh Đức T khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi Mua bán trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trịnh Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 7 đến 8 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Đức T từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2023.
Về hình phạt bổ sung xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo:
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký niêm phong của Giám định viên và đối tượng Trịnh Đức T, niêm phong ký hiệu Mẫu số 02.
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và các đối tượng Trịnh Đức T, Hoàng Phi L, ký hiệu Mẫu số 01;
- - 01 (một) coóng thủy tinh màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) bật lửa gas màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) vỏ chai nhựa nhãn hiệu RED DRAGON, nắp chai màu trắng, trên nắp có đục 02 lỗ (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và đối tượng Nguyễn Văn Q, niêm phong ký hiệu Mẫu số 03.
- - 01 (một) cuộn băng dính màu đen (đã qua sử dụng).
- - 11 (mười một) vỏ túi nilong màu trắng, viền xanh đều có kích thước (1x1) cm (chưa qua sử dụng).
- - 01 (một) bình thủy tinh màu trắng gắn ống hút nhựa màu tím vàng (đã qua sử dụng).
* Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu hồng (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- - Số tiền 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng N đang lưu hành.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo, phê chuẩn quyết định khởi tố bị cáo, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, tạm giam, về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị cáo, lấy lời khai người làm chứng, xác minh hiện trường vụ án, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định tài sản, về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị cáo. Quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên không mắc cung, ép cung, bức cung, nhục hình đối với bị cáo.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định:
Trong hai ngày 09 và 10/01/2024, tại khu vực thôn N, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Q đã 02 (hai) lần bán trái phép 02 túi ma túy loại Methamphetamine cho Trịnh Đức T lấy 500.000 đồng.
Trịnh Đức T cầm túi ma túy mua của Q về nhà cất giấu sử dụng và để bán lại kiếm lời. Ngày 10/01/2024, tại khu vực gần nhà Thêm ở thôn S, xã T, huyện C. Thêm bán lại cho Hoàng Phi L 01 túi ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,019 gam lấy 500.000 đồng. Khi L nhận ma túy, thì bị Công an huyện C bắt giữ quả tang thu giữ vật chứng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của T còn thu giữ được 01 túi ma túy khối lượng 0,012 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,031 gam Methamphetamine.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Nguyễn Văn Q phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình có ông bà có huân huy chương kháng chiến chống Mỹ, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Trịnh Đức T nghiện ma túy, phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình có ông nội được tặng kỷ niệm chương chiến sỹ cách mạng, bị bắt, từ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[2.3]. Xét loại, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an ở địa phương bị Nhà nước nghiêm cấm, pháp luật hình sự trừng phạt. Các bị cáo do nghiện ngập, hám lợi, biết tác hại của ma túy. Nhận thức nghiêm cấm mà vẫn phạm tội về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội về ma túy cần xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo và các lịch lý các bị cáo khỏi xã hội một thời gian giúp bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[2.4]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
* Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và các đối tượng Trịnh Đức T, Hoàng Phi L, ký hiệu Mẫu số 01;
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký niêm phong của Giám định viên và đối tượng Trịnh Đức T, niêm phong ký hiệu Mẫu số 02.
- - 01 (một) coóng thủy tinh màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) bật lửa gas màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) vỏ chai nhựa nhãn hiệu RED DRAGON, nắp chai màu trắng, trên nắp có đục 02 lỗ (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và đối tượng Nguyễn Văn Q, niêm phong ký hiệu Mẫu số 03.
- - 01 (một) cuộn băng dính màu đen (đã qua sử dụng).
- - 11 (mười một) vỏ túi nilong màu trắng, viền xanh đều có kích thước (1x1) cm (chưa qua sử dụng).
- - 01 (một) bình thủy tinh màu trắng gắn ống hút nhựa màu tím vàng (đã qua sử dụng).
* Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu hồng (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- - Số tiền 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng N đang lưu hành.
[2.5]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016: buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q, Trịnh Đức T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự phạt Nguyễn Văn Q 7 ( B ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự phạt Trịnh Đức T 30 ( Ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
* Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và các đối tượng Trịnh Đức T, Hoàng Phi L, ký hiệu Mẫu số 01;
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký niêm phong của Giám định viên và đối tượng Trịnh Đức T, niêm phong ký hiệu Mẫu số 02.
- - 01 (một) coóng thủy tinh màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) bật lửa gas màu trắng (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) vỏ chai nhựa nhãn hiệu RED DRAGON, nắp chai màu trắng, trên nắp có đục 02 lỗ (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) phong bì niêm phong của PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và đối tượng Nguyễn Văn Q, niêm phong ký hiệu Mẫu số 03.
- - 01 (một) cuộn băng dính màu đen (đã qua sử dụng).
- - 11 (mười một) vỏ túi nilong màu trắng, viền xanh đều có kích thước (1x1) cm (chưa qua sử dụng).
- - 01 (một) bình thủy tinh màu trắng gắn ống hút nhựa màu tím vàng (đã qua sử dụng).
* Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu hồng (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng bên trong .
- - Số tiền 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng N đang lưu hành.
Vật chứng hiện ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/05/2024 giữa Công an huyện huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng (Số tiền 700.000 đồng hiện ở tài khoản 3949.0.1052753.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ tại Kho bạc Nhà nước huyện C theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 27/05/2024 của Công an huyện C).
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Văn Q, Trịnh Đức T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vương Đăng Khoa |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
