TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày 20 tháng 5 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vân Văn Kiều;
- Ông Lý Quang Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Sìn Văn Đ, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 06/9/1997, tại huyện S, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Sìn Văn L, sinh năm 1970; mẹ đẻ: Lò Thị S, sinh năm 1977; vợ: Tẩn A L1, sinh năm 1997; bị cáo có 01 con, sinh năm 2017; tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án số: 11/2022/HS-ST, ngày 31/3/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58, 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sìn Văn Đ 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 23/8/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích.
Về nhân thân:
của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Sìn Văn Đ 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số: 27/2018/HS-ST, ngày 05/6/2018, của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Sìn Văn Đ 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án và đã được xóa án tích.
- Ngày 19/9/2021, Sìn Văn Đ bị Công an xã V, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 23/12/2021, Sìn Văn Đ bị Công an thị xã P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định và đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay, có mặt.
2. Họ và tên: Lò Văn L2, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 24/9/1998, tại huyện S, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Lò Văn T, sinh năm 1974; mẹ đẻ: Lò Thị Đ1, sinh năm 1976; vợ: Tẩn A LYU, sinh năm 1997; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định số: 442/QĐ-UBND, ngày 13/10/2023, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, Lò Văn L2 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn áp dụng là 03 tháng, kể từ ngày 13/10/2023. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo không được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Nhân thân: Tại Bản án số: 36/2016/HSST, ngày 26/5/2016, của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 20, các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 31, 53, 73 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Lò Văn L2 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Sìn Văn L, sinh năm 1970, địa chỉ: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ, ngày 04/01/2024, tại bản Pa Tần 2, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, Sìn Văn Đ rủ Lò Văn L2 đi tìm mua Heroine để sử dụng, L2 đồng đồng để lợi đi mua xilanh và nước cất. Đến khoảng 11 giờ 00, cùng ngày, khi đi đến khu vực bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Đ và L2 hỏi thăm qua 01 người đàn ông, không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể, được người này chỉ vào một nhà ở gần đó và bảo là nhà C có bán Heroine. Đ và L2 đi vào nhà người đàn ông tên C, tại đây, Đ mua được 02 gói Heroine, hết 200.000 đồng, L2 mua được 03 gói Heroine, hết 100.000 đồng. Sau khi mua được H1, Đ và L2 sử dụng hết 01 gói Heroine trong số Heroine mà Đ mua được. Số Heroine còn lại, Đ và L2 cất giấu trên người rồi đi về. Vào hồi 11 giờ 35 phút, ngày 04/01/2024, khi L2 chở Đ đi về đến khu vực ngã ba đường liên thôn T, xã M, huyện P thì bị Tổ công tác Công an xã M phát hiện bắt quả tang và thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, gồm:
Thu giữ của Lò Văn L2: 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 02 lớp nilon màu xanh đều được đốt túm lại, mở các lớp nilon ra thấy bên trong có 03 gói nilon màu xanh, bên trong từng gói là chất bột màu trắng.
Thu giữ của Sìn Văn Đ: 01 gói nilon màu trắng, mở ra thấy bên trong có 02 lớp nilon màu trắng, và một lớp nilon màu xanh, bên trong có 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chất bột màu trắng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, sơn màu đỏ, biển kiểm soát: 22K3- 8469, kèm theo chìa khóa xe; 01 chiếc bật lửa màu vàng.
Thu giữ của ông Sìn Văn L: 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 002945, mang tên Đàm Thái, biển số đăng ký: 22K3- 8469.
Bản Kết luận giám định số: 01/KL- GĐVV, ngày 04/01/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Toàn bộ chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L2 có tổng khối lượng là: 0,2 gam. Khối lượng chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thu giữ của Sìn Văn Đ là: 0,2 gam.
Bản Kết luận giám định số: 139/KL-KTHS, ngày 08/01/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 04 Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3, M4) gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022, của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKS, ngày 19 tháng 4 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Sìn Văn Đ và bị cáo Lò Văn L2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Sìn Văn Đ, Lò Văn L2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sìn Văn Đ mức hình phạt từ 01 (một) năm, 07 (Bảy) tháng đến 01 (Một) năm 10 (M) tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, sự. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy: 0,15 gam Heroine còn lại sau giám định, được cho vào mảnh giấy trắng không dòng kẻ gói gấp lại; 01 chiếc bật lửa màu vàng; 04 mảnh nilon màu trắng; 07 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên qun là ông Sìn Văn L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius, biển kiểm soát: 22K3-8469. Đối với 0,25 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, án phí và xử lý vật chứng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện về điều kiện nhân thân, nguyên nhân phạm tội của các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình, xử phạt các bị cáo dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 11 giờ 35 phút, ngày 04/01/2024, tại khu vực đường liên thôn thuộc địa phận bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã M, huyện P phát hiện bắt quả tang Sìn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,2 gam và Lò Văn L2 có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,2 gam. Các bị cáo đều khai việc tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng.
Chất ma túy thu giữ của các bị cáo là Heroine, H1 là loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Các bị cáo cùng nhau thống nhất về cùng thực hiện hành vi đi mua Heroine để sử dụng nên các bị cáo có vai trò đồng phạm. Vì vậy, các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng số Heroine mà cả hai bị cáo mua được là 0,4 gam.
[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án:
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, các bị cáo khai vào ngày 04/01/2024, các bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông, nhà ở bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra xác minh, người đàn ông theo các bị cáo khai là Sùng A C1, sinh năm 1995, trú tại bản Tè Tè, xã M, huyện P. Tuy nhiên, khi tiến hành nhận dạng thì các bị cáo đều không nhận ra Chính. Đồng thời, qua xác minh tại địa phương, gia đình cho thấy C1 và vợ C1 đã đi làm thuê cách ngày 04/01/2024 khoảng 01 tháng, không ai biết C1 đi làm thuê ở đâu. Hiện tại, C1 không có mặt ở địa phương. Do vậy, không có căn cứ để làm rõ vai trò của Chính trong vụ án này.
Đối với hành vi Đ lấy 01 gói Heroine của Đ để Đ và L2 cùng sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy, giữa Đ và L2 không có sự phân công ai là người chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy, quá trình sử dụng Heroine thì Đ và L2 đều tự sử dụng Heroine của mình, không ai giúp ai đưa H1 vào cơ thể của người còn lại, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy chiếc bơm kim tiêm mà Đ và L2 dùng để sử dụng Heroine. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác. Do vậy, không có đủ căn cứ để xử lý Đ về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông, khoảng hơn 30 tuổi chỉ nơi giúp Đ, L2 mua được Heroine, các bị cáo đều không biết họ tên, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với ông Sìn Văn L là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, sơn màu đỏ, biển kiểm soát: 22K3- 8469, khi Đ lấy xe đi mua Heroine, ông L không biết việc Đ sử dụng xe mô tô của mình để đi mua Heroine. Do vậy, ông L không phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm với Đ trong vụ án này.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Sìn Văn Đ thực hiện hành vi phạm tôi khi chưa được xóa án tích theo bản án số: 11/2022/HS-ST, ngày 31/3/3022, của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lò Văn L2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.3] Về nhân thân: Bị cáo Sìn Văn Đ đã 01 lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 lần bị Tòa án xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Lò Văn L2 đã 01 lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, có 01 tiền sự về áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Các bị cáo không rút ra bài học để cảnh tỉnh bản thân, rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật mà lại tiếp tục phạm tội.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ đã nhiều lần bị Tòa án xét xử, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng mức hình phạt nặng hơn bị cáo L2. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là chưa phù hợp, không đủ sức răn đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: 0,25 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xét xử không xem xét. Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: 0,15 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành. 01 chiếc bật lửa màu vàng, các mảnh nilon, các vỏ niêm phong, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius, biển kiểm soát: 22K3-8469, là cho ông L.
[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Các bị cáo Sìn Văn Đ, Lò Văn L2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Sìn Văn Đ: 01 (Một) năm, 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn L2: 01 (Một) năm, 07 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,15 gam Heroine còn lại sau giám định được cho vào mảnh giấy trắng không dòng kẻ gói gấp lại; 01 chiếc bật lửa màu vàng; 04 mảnh nilon màu trắng; 07 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Sìn Văn L: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius, biển kiểm soát: 22K3-8469, kèm theo chìa khóa xe và giấy đăng ký xe.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 00 phút, ngày 26/4/2024, tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phong Thô, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về liên quan được quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 72/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáp TTTP CMT
