Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Dũng và bà Nguyễn Thị Tưởng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như N - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang và điểm cầu trại tạm giam công an tỉnh T mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/ QĐXXST - HS ngày 08/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Minh H, Sinh ngày 06/9/1972;

- Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Họ tên bố: Đặng Minh M, sinh năm 1947; Họ tên mẹ: Phạm Thị H1, sinh năm 1947; Vợ: Phạm Thị Vân A, sinh năm 1976. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2007.

* Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân:

  • - Ngày 11/7/1996, bị UBND thị xã T (nay là thành phố T) áp dụng biện pháp đưa người vào Công trường lao động 06 tại Quyết định số 20/QĐ-UB kể từ ngày 12/7/1996 cho đến thời gian của giai đoạn 2 theo quy trình cai nghiện tại Quyết định số 731 ngày 01/8/1996 của UBND tỉnh.
  • - Ngày 16/01/1999, bị Công an phường P, thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 172/XPVPHC, phạt tiền 200.000 đồng.
  • - Ngày 17/01/1999, bị UBND phường T, thị xã T (nay là thành phố T) áp dụng biện pháp đưa người vào cai nghiện tại cộng đồng tại Quyết định số 01/QĐ-UB theo Quy chế kể từ ngày 17/01/1999.
  • - Ngày 03/4/2000, bị UBND thị xã T (nay là thành phố T) áp dụng biện pháp đưa người nghiện về gia đình cai giai đoạn 3 tại Quyết định số 220/QĐ-UB theo quy trình cai nghiện tại Quyết định số 731 ngày 01/8/1996 của UBND tỉnh T.
  • - Ngày 17/01/2003, bị Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đưa người vào cai nghiện chữa bệnh tại cộng đồng tại Quyết định số 08/QĐ-UB.
  • - Ngày 27/01/2003, bị Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Quyết định số 119/QĐ-UB, phạt tiền 5.000.000 đồng.
  • - Ngày 04/3/2003, bị Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tại Công trường 06, thị xã T tại Quyết định số 1408/QĐ-CT.
  • - Ngày 08/02/2010, bị Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 12/QĐ-XPHC, phạt tiền 200.000 đồng.
  • - Ngày 06/01/2012, bị Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tại Công trường 06, thành phố T tại Quyết định số 05/QĐ-CT.
  • - Ngày 06/8/2013, bị Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp đưa người đang cai nghiện ma túy từ Công trường 06, thành phố T về cai nghiện ma túy giai đoạn III tại nơi cư trú tại Quyết định số 13073/QĐ-CT.
  • - Ngày 22/9/2017, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Hủy hoại hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản tại Quyết định số 203/QĐXPHC-HS, phạt tiền 3.500.000 đồng.
  • * Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt

2. Họ và tên: Trần Đại D; Sinh ngày 06/01/1985;

Nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ;Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Họ tên bố: Trần Ngọc D1, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Vũ Thị C, sinh năm 1955; Vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1989. Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

* Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân:

  • - Ngày 30/3/2012, bị Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc tại Quyết định số 40/QĐ-XPHC, phạt tiền 1000.000 đồng.
  • - Ngày 29/6/2016, bị TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 27/2016/HSST.
  • * Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị Hồng D2, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, Đặng Minh H, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang một mình điều khiển xe mô tô biển số 22B1-474.79 (Hạnh mượn của chị Đặng Thị Hồng D2 - em gái) đến khu vực vòng xuyến gần cầu C thuộc phường T, thành phố T chơi thì gặp Trần Đại D, trú tại tổ dân phố I, phường T, thành phố T. Tại đây, H rủ D đi mua ma túy (Heroine) về sử dụng, thỏa thuận H góp 200.000 đồng còn D không có tiền nên sẽ trực tiếp đi mua về để cùng nhau sử dụng, D đồng ý. H đi xe mô tô đến hiệu thuốc gần đó (không xác định được tên, địa chỉ cụ thể) mua 02 chiếc xi lanh nhựa màu trắng và 02 chai nước cất rồi quay lại đưa cho D 200.000 đồng. D bảo H đứng chờ tại khu vực gốc cây xà cừ gần cổng Cục thuế tỉnh Tuyên Quang thuộc tổ dân phố I, phường T còn Dương cầm tiền H đưa một mình đi bộ đến khu vực cổng bến xe khách thành phố T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông theo D khai tên L, làm nghề lái xe ôm (không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ) 01 gói Heroine bọc ngoài bằng giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. Dương cầm gói Heroine vừa mua được trong lòng bàn tay phải quay lại địa điểm đã hẹn nói đã mua được ma túy và đưa gói Heroine trên cho H. H đưa cho D cầm 01 chiếc xi lanh để H đổ Heroine vừa mua vào, mục đích cho D sử dụng một phần trước, số còn lại H sẽ sử dụng. Khi D đang chuẩn bị sử dụng Heroine thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện. Do hoảng sợ, D vứt chiếc xilanh có chứa Heroine xuống đất cạnh vị trí H đang đứng rồi bỏ chạy, H khai nhận số Heroine trên là của HD. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 23 giờ 00 phút cùng ngày; thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Đến ngày 18/3/2024, Cơ quan điều tra triệu tập được D đến làm việc.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể HD, kết quả đều (-) âm tính, không có chất ma túy trong cơ thể.

Bản Kết luận giám định số 354/KL-GĐKTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T: Mẫu vật gửi giám định (thu giữ của Đặng Minh H là ma chất túy, loại Heroine, khối lượng 0,138 (Không phẩy một ba tám gam).

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Đặng Minh H, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 xi lanh nhựa màu trắng chứa 0,088 gam Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định); 01 xi lanh nhựa màu trắng, 01 chai thủy tinh bên trong chứa chất lỏng màu trắng và 01 chai thủy tinh đã bị vỡ phần đầu là vật chứng của vụ án; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại SUPERDREAM, biển số 22B1-474.79, đã qua sử dụng.

Ngày 25/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị Đặng Thị Hồng D2 là chủ sở hữu hợp pháp.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSTP ngày 11 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Đặng Minh HTrần Đại D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Minh HTrần Đại D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

  • Xử phạt bị cáo Đặng Minh H từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 05 (năm) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam 23/02/2024.
  • Xử phạt bị cáo Trần Đại D từ 01 (một) năm 01 (một) tháng đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam 19/3/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo trước khi phạm tội có nghề nghiệp thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, không có mục đích vụ lợi. Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Đề nghị Hội đồng xét xử:
  • Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng, bên trong chứa chất bột vón cục mầu trắng là ma túy (Heroine) sau khi giám định còn lại 0,088g (không phẩy không tám tám gam) cùng xi lanh và bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ Đặng Minh H, giám định ngày 24/02/2024”, mặt sau tại mép dán của phong bì niêm phong có chữ ký của Đặng Minh H cùng thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.
  • - 01(một) xi lanh nhựa màu trắng; 02 (hai) chai thủy tinh (một chai đã bị vỡ phần đầu, một chai còn nguyên vẹn bên trong chứa chất lỏng không màu) những đồ vật trên được niêm phong trong một phòng bì giấy dán kín, trên các mép phong bì có chữ ký của Đặng Minh H cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 17/6/2024)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Đặng Minh HTrần Đại D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; Các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh qua biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 23 giờ 00 phút ngày 23/02/2024, tại khu vực tổ dân phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Đặng Minh H, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố TTrần Đại D, trú tại tổ dân phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,138g (không phẩy một ba tám gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố T. Các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện thể hiện ý thức của các bị cáo coi thường pháp luật. Các bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo Đặng Minh H đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Trần Đại D đã bị Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc tại Quyết định số 40/QĐ-XPHC, phạt tiền 1000.000 đồng. Ngày 29/6/2016, bị TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 27/2016/HSST. Nhưng các bị cáo đều không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt mà tiếp tục có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Như vậy, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo.

Căn cứ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để pháp luật giáo dục các bị cáo, đủ thời gian để các bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình, tu dưỡng rèn luyện bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội, bên cạnh đó cũng nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa chung và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Người phạm tội thành khẩn khai báo", quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đặng Minh H có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Trần Đại D có bố đẻ là thương binh hạng bốn nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng, bên trong chứa chất bột vón cục mầu trắng là ma túy (Heroine) sau khi giám định còn lại 0,088g (không phẩy không tám tám gam) cùng xi lanh và bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ Đặng Minh H, giám định ngày 24/02/2024”, mặt sau tại mép dán của phong bì niêm phong có chữ ký của Đặng Minh H cùng thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.
  • - 01(một) xi lanh nhựa màu trắng; 02 (hai) chai thủy tinh (một chai đã bị vỡ phần đầu, một chai còn nguyên vẹn bên trong chứa chất lỏng không màu) những đồ vật trên được niêm phong trong một phòng bì giấy dán kín, trên các mép phong bì có chữ ký của Đặng Minh H cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 17/6/2024)

Đối với người đàn ông theo D khai tên L, là người đã bán Heroine cho D vào ngày 23/02/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác minh được họ, tên đệm, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chị Đặng Thị Hồng D2 (chủ sở hữu xe mô tô biển số 22B1-474.79), không biết H mượn xe mô tô làm phương tiện đi gặp và rủ D mua, sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Minh H; Trần Đại D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Căn cứ: Khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đặng Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/02/2024.

3. Căn cứ: Khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Đại D 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 19/3/2024.

4. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) xi lanh nhựa màu trắng, bên trong chứa chất bột vón cục mầu trắng là ma túy (Heroine) sau khi giám định còn lại 0,088g (không phẩy không tám tám gam) cùng xi lanh và bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ Đặng Minh H, giám định ngày 24/02/2024”, mặt sau tại mép dán của phong bì niêm phong có chữ ký của Đặng Minh H cùng thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.
  • - 01(một) xi lanh nhựa màu trắng; 02 (hai) chai thủy tinh (một chai đã bị vỡ phần đầu, một chai còn nguyên vẹn bên trong chứa chất lỏng không màu) những đồ vật trên được niêm phong trong một phòng bì giấy dán kín, trên các mép phong bì có chữ ký của Đặng Minh H cùng thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 17/6/2024)

4. Căn cứ các Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  • - Các bị cáo Đặng Minh H; Trần Đại D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Các bị cáo Đặng Minh H; Trần Đại D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị Hồng D2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKS ND thành phố;
  • - Công an thành phố;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Sở Tư pháp TQ;
  • - Các bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Lan

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Tưởng

Trần Thế Dũng

Nguyễn Thị Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XX
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger