Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-PT

Ngày 18 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Bằng, ông Nguyễn Minh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh HảiDương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn B, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HSST ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

* Bị cáo kháng cáo: Phạm Văn B, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm A, thôn N, xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Vũ Thị G; tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

* Bị hại: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu dân cư A, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Những người làm chứng: Chị Đỗ Thị D, anh Phạm Văn B1, anh Nguyễn Văn Q, anh Trương Văn L1 (tên gọi khác H, anh Trương Văn D1, anh Nguyễn Văn K, anh Phạm Văn C1, anh Trương Văn H1 (không triệu tập tham gia phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 28/5/2023, anh Phạm Văn B1 rủ Phạm Văn B và các anh Nguyễn Văn Q, Phạm Văn C, anh Trương Văn L1 (tên gọi khác là H2) và anh Trương Văn D1 đều là người làm cùng tàu cát cho anh B1 đến quán bia Hưng D2 của gia đình chị Đỗ Thị D ở khu dân cư T, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương để uống bia. Khi đến nơi, mọi người ngồi cùng bàn đầu tiên gần cổng chính của quán, B và anh C ngồi ở giữa bàn đối diện với nhau, cách nhau bởi mặt bàn khoảng 1,5m. Trong khi chờ chị D mang bia ra thì anh C và anh B1 đi sang bàn bên cạnh phía sân phụ của quán giao lưu với bạn của anh C là Nguyễn Văn K, Phạm Văn C1, Trương Văn H1. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh B1 và anh C quay lại bàn uống bia cùng B, anh Q, anh L2, anh D1 thì anh B1 và anh C có nói chuyện với nhau về công việc, B có nói chen vào. Ngay sau đó B và anh C đã xảy ra mâu thuẫn, hai bên cùng đứng dậy có lời qua tiếng lại cãi chửi nhau. B lấy chiếc cốc thủy tinh không có quai, cao khoảng 7-8 cm, đường kính miệng cốc và đáy cốc khoảng 6-7cm ở trên mặt bàn B và anh C đang ngồi ném vào mặt anh C trúng vào vùng miệng làm chiếc cốc bị vỡ, các mảnh vỡ thủy tinh bắn vào ngực trái của anh C làm anh C bị thương chảy máu ở miệng và ngực trái được anh B1, anh Q và mọi người can ngăn. Anh C chạy sang bàn của anh K, anh C1, anh H1 hô “Thằng B giết tao rồi, chúng mày cứu tao với” thì anh K lấy 01 tuýp sắt dài khoảng 60cm ở góc vườn nhà chị D; anh C1 vào bếp nhà chị D lấy 01 con dao bầu dài khoảng 35cm có cán bằng gỗ cùng anh C, anh H1 chạy đến chỗ B. Anh K dùng tuýp sắt vụt vào lưng Bắc 01 cái, anh C1 đứng ngoài cầm dao khua, anh H1 dùng tay đấm B thì B bỏ chạy vào trong phòng khách nhà chị D. Anh H1 cầm theo ghế nhựa màu nâu cùng anh C, anh K, anh C1 đuổi theo B vào phòng khách; anh K tiếp tục dùng tuýp sắt vụt 03 cái vào lưng B, anh H1 dùng ghế nhựa màu nâu đập vào người Bắc trượt xuống nền nhà làm chiếc ghế bị vỡ, anh C1 đứng ngoài cầm dao khua dọa, anh C dùng tay phải đấm 02 cái vào mặt B làm B bị choáng, đau nằm xuống nền nhà được anh B1 can ngăn thì anh K, anh H1, anh C1 đi ra ngoài, B nằm được khoảng 5 phút thì đứng dậy đi về. Anh C được mọi người đưa đến Trung tâm y tế thị xã K sơ cứu, sau đó đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H điều trị đến ngày 31/5/2023 thì ra viện. Tại Bệnh án ngoại của Bệnh viện đa khoa tỉnh H xác định thương tích của anh C gồm vết thương vùng môi trên (3x2)cm, 03 vết thương phần mềm thành ngực cổ trái.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 284/TgT ngày 31/8/2023 và văn bản số 57/CV ngày 13/11/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận anh C bị 01 sẹo vết thương phần mềm vùng môi trên bên trái kích thước (1,1 x 0,1)cm còn nề, dưới có diện xơ cứng, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 03%; 01 sẹo vết thương phần mềm vùng môi trên bên trái kích thước (0,7 x 0,1)cm còn nề, dưới có diện xơ cứng, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 03%; 01 sẹo vết thương phần mềm vùng môi dưới bên trái kích thước (2,5 x 0,1)cm, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là: 03%; 03 sẹo vết thương phần mềm vùng ngực trước bên trái kích thước (1,1 x 0,1)cm; (0,8 x 0,1)cm; (1,2 x 0,1)cm, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra mỗi sẹo là: 01%. Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn C tại thời điểm giám định là 11%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc gây ra.

Đối với hành vi của các anh C1, K, H1 và C đánh bị cáo B chỉ bị sưng tím phầm mềm, không phải điều trị tại cơ sở y tế nào, tự khỏi và không có yêu cầu đề nghị gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã K không đặt ra việc giải quyết. Hành vi đuổi đánh bị cáo B của những người nêu trên gây mất an ninh trật tự công cộng tại địa phương, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an thị xã K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HSST ngày 07/5/2024, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn đã căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 10/5/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo giao nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền thể hiện bị cáo đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm.

Người bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như được mô tả trong bản sơ thẩm, nhất trí với tội danh như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với mình và giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải dương tham gia phiên tòa xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; phạm tội lần đầu; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/5/2023, tại quán bia “Hưng Dung” của gia đình chị Đỗ Thị D ở khu dân cư T, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương, do có mâu thuẫn Phạm Văn B có hành vi dùng 01 chiếc cốc thủy tinh loại không có quai, cao khoảng 7-8cm, đường kính miệng cốc và đáy cốc khoảng 6-7cm ném vào vùng miệng của anh Phạm Văn C đang đứng đối diện làm cốc bị vỡ, các mảnh vỡ thủy tinh bắn vào ngực trái của anh C. Hậu quả anh C bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11%. Với hành vi nêu trên bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Bị cáo không kháng cáo về tội danh.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo. Xét thấy, tỷ lệ tổn thương cơ thể bị cáo gây ra cho anh C là 11% trong khi đó anh C cũng có một phần lỗi, tại cấp phúc thẩm, anh C tiếp tục xin giảm nhẹ trách nhiệm sự cho bị cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về án treo nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm cho bị cáo một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên tòa cũng có tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn B. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HSST ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (18/7/2024) về tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao bị cáo Phạm Văn B cho Ủy ban nhân dân xã M, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV-CA tỉnh Hải Dương;
  • - TAND thị xã Kinh Môn;
  • - Công an thị xã Kinh Môn;
  • - VKSND thị xã Kinh Môn;
  • - Chi cục THADS thị xã Kinh Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu Tòa; lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-PT ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 72/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/5/2023, tại quán bia “Hưng Dung” của gia đình chị Đỗ Thị D ở khu dân cư T, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương, do có mâu thuẫn Phạm Văn B có hành vi dùng 01 chiếc cốc thủy tinh loại không có quai, cao khoảng 7-8cm, đường kính miệng cốc và đáy cốc khoảng 6-7cm ném vào vùng miệng của anh Phạm Văn C đang đứng đối diện làm cốc bị vỡ, các mảnh vỡ thủy tinh bắn vào ngực trái của anh C. Hậu quả anh C bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11%.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger