Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 18-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Cư
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an Q1: Ông Phan Văn D - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Q - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai theo hình thức trực tuyến Vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Ngọc T, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1993, tại: Tiền Giang; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Ngọc S, sinh năm 1968 và bà Phan Thị Bảy N, sinh năm 1968; có 02 người anh, chị, người lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991; có vợ tên Đoàn Thị Bích G, sinh năm 1989; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Q1; bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ - Công an Q1 của phiên tòa.

Bị hại: Bà Bùi Thị D1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Số D N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1) Ông Trần Minh T1, sinh năm 1982; địa chỉ: A H, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

2) Ông Quách Vĩnh T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Số H T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng Tháng 9/2023, Võ Ngọc T được anh Quách Vĩnh T2 nhận vào làm việc tại cửa hàng bán nước đá đối diện nhà số D N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Hằng ngày, nhiệm vụ của T là trông coi cửa hàng và dùng xe mô tô biển số 52M2-3625 để giao nước đá cho các nhà hàng ăn uống tại địa bàn Quận E.

Vào khoảng 09 giờ ngày 31/12/2023, do điện thoại của T hết pin nên T hỏi bà Bùi Thị D1 là chủ nhà số D N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho T vào trong nhà để sạc pin điện thoại, bà D1 đồng ý, T đi vào trong cắm điện sạc điện thoại thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Red Note 11 của bà D1 trong rổ treo trên tường sát ổ điện. Lúc này, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên lợi dụng lúc bà D1 không để ý, T lén lút dùng tay phải lấy chiếc điện thoại của bà D1 bỏ đi ra ngoài kiểm tra thấy phía sau ốp lưng của điện thoại của bà D1 có kẹp tờ tiền 500.000 đồng. T điều khiển xe mô tô biển số 52M2-3625 mang chiếc điện thoại trên đến cửa hàng mua bán điện thoại di động “Tuấn Phát", địa chỉ số A H, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Trần Minh T1 làm chủ cầm cố được 1.000.000 đồng (anh T1 không biết đây là điện thoại do T phạm tội mà có) cùng với số tiền 500.000 đồng phía sau ốp lưng điện thoại là 1.500.000 đồng. T dùng 500.000 đồng trả cho người bán hàng rong tại khu vực Quận E (không rõ lai lịch), số tiền 200.000 đồng để mua đồ ăn, uống và các đồ dùng cá nhân. Còn lại 800.000 đồng, T cất trong người rồi quay về cửa hàng làm việc. Bà D1 phát hiện bị mất trộm điện thoại nên đến Công an P, Quận E trình báo. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo Võ Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi sự việc như diễn biến nêu trên, bị cáo khai một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Red Note 11, sau ốp lưng điện thoại có 500.000 đồng của bà D1, không có ai khác cùng tham gia. Đối với số tiền 800.000 đồng còn lại, bị cáo đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra.

Bị hại bà Bùi Thị D1 trình bày sự việc như nội dung nêu trên và khai chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Red Note 11 do bà mua vào Tháng 02/2022. Bà đã được nhận lại chiếc điện thoại nên chỉ yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 500.000 đồng mà bị cáo T đã lấy.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh T1 trình bày có cầm chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Red Note 11 màu xám do T mang đến với giá 1.000.000 đồng vào ngày 31/12/2023 và không biết chiếc điện thoại nêu trên do T trộm cắp mà có được. Ông T1 tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại cho cơ quan điều tra và không yêu cầu vấn đề dân sự gì đối với bị cáo T.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Red Note 11 màu xám, số IMEI (khe 1): 860630060701607, số IMEI (khe 2): 860630060701615, có gắn 01 ốp lưng màu trắng trong suốt; 01 (một) xe mô tô, số khung: CT100F1388101, số máy: CF100E-1388481; 01 (một) áo thun có cổ ngắn tay màu xanh nhãn hiệu Nike; 01 (một) quần short vải màu xanh; 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu OPPO A77, số IMEI: 866194032250775; số tiền 800.000 đồng; 01 (một) biển số 52M2-3625.

Tại Kết luận định giá số 12/KL-HĐĐGTS ngày 15/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: “Điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% tại thời điểm định giá tháng 12/2023 có giá 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng”.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Bùi Thị D1 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 500.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 52/CT-VKS-Q5 ngày 02/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Võ Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Bị hại bà Bùi Thị D1 trình bày nội dung sự việc như nội dung bản cáo trạng và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, sống có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản”. Qúa trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị hại cũng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Ngọc T hình phạt tù giam với mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại; về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu OPPO A77, số IMEI: 866194032250775; tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo thun có cổ ngắn tay màu xanh nhãn hiệu Nike, 01 (một) quần short vải màu xanh; số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo, đề nghị trả lại cho bị hại 500.000 đồng, 300.000 đồng tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; trả cho ông Quách Vĩnh T2 01 (một) xe mô tô biển số 52M2-3625, số khung: CT100F1388101, số máy: CF100E-1388481.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Đối với sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông Quách Vĩnh T2, Trần Minh T1 tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự trong vụ án do đó sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Võ Ngọc T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Võ Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người biết việc, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 09 giờ ngày 31/12/2023, tại nhà số D N, Phường F, Quận E, bị cáo Võ Ngọc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11 và 500.000 đồng của bà Bùi Thị D1. Tại Kết luận định giá số 12/KL-HĐĐGTS ngày 15/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: “Điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 11, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% tại thời điểm định giá tháng 12/2023 có giá 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng”.

Như vậy, tổng trị giá tài sản bị cáo Võ Ngọc T đã chiếm đoạt của bị hại là 2.600.000 đồng (hai triệu sáu trăm nghìn đồng), có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

Xét bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên với lỗi cố ý do dó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đủ nhận thức để biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tại phiên tòa bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cần xem là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Red Note 11 màu xám, số IMEI (khe 1): 860630060701607, số IMEI (khe 2): 860630060701615, có gắn 01 (một) ốp lưng màu trắng trong suốt là tài sản của bà D1, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm;

+ 01 (một) xe mô tô biển số 52M2-3625, số khung: CT100F1388101, số máy: CF100E-1388481. Xét chiếc xe nêu trên do ông Quách Vĩnh T2 giao cho bị cáo T để đi giao nước đá cho khách, không biết T dùng vào việc đi tiêu thụ tài sản trộm cắp nên cần trả lại cho ông T2 theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ (một) áo thun có cổ ngắn tay màu xanh nhãn hiệu Nike, 01 (một) quần short vải màu xanh. Xét đây là các vật dụng cá nhân của bị cáo, không còn giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì với những tài sản này nên tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu OPPO A77, số IMEI: 866194032250775. Xét thấy chiếc điện thoại nêu trên là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo. Đây là số tiền bị cáo có được từ việc phạm tội trong đó có số tiền 500.000 đồng do bị cáo chiếm đoạt của bị hại và Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi (theo Phiếu hạch toán nộp tiền mặt số 28001 ngày 14/5/2024 của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh S1) nên cần trả lại cho bị hại theo khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Còn số tiền 300.000 đồng còn lại, xét số tiền thu giữ của bị cáo còn có số tiền có được từ việc phạm tội thông qua hành vi cầm cố chiếc điện thoại trộm cắp cho ông Trần Minh T1 nhưng ông T1 không có yêu cầu gì đối với số tiền nêu trên. Đây là sự tự nguyện của ông T1, phù hợp với quy định tại Điều 194 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đối với số tiền 300.000 đồng còn lại bị cáo có được do phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng do bị cáo trộm cắp của bị hại nhưng chưa trả lại. Yêu cầu bồi thường của bị cáo là phù hợp quy định theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã xem xét trả lại cho bị hại số tiền 500.000 đồng thu giữ từ bị cáo do phạm tội mà có như nhận định nêu trên yêu cầu bồi thường số tiền 500.000 đồng đã được xem xét từ việc xử lý vật chứng số tiền phạm tội mà có, Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[8] Đối với ông Trần Minh T1, ông T1 đã cầm cố chiếc điện thoại do phạm tội mà có của bị cáo nhưng ông T1 không biết chiếc điện thoại do phạm tội mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý đối với hành vi này; ông T1 cũng không có yêu cầu gì về vấn đề dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề trách nhiệm dân sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên được chấp nhận.

[10] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Võ Ngọc T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 01 năm 2024.

2. Căn cứ điểm c khoản 2, điểm a và b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 ; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

- Trả lại cho bị cáo Võ Ngọc T 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu OPPO A77, số IMEI: 866194032250775;

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo thun có cổ ngắn tay màu xanh nhãn hiệu Nike, 01 (một) quần short vải màu xanh;

- Trả lại cho bị hại bà Bùi Thị D1 số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng;

- Trả lại cho ông Quách Vĩnh T2 01 (một) xe mô tô biển số 52M2-3625, số khung: CT100F1388101, số máy: CF100E-1388481.

(Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; Phiếu hạch toán nộp tiền mặt số 28001 ngày 14/5/2024 của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh S1).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Võ Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc T-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger