|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/DS-ST Ngày 18-6-2024 V/v tranh chấp chia di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.
Các Hội thẩm nhân dân;
- Ông Nguyễn Thanh Văn;
- Ông Nguyễn Văn Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngô Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 534/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-DS ngày 21/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2024/QĐST-DS ngày 04/6/2024 và Thông báo về việc dời lịch xét xử số 19/TA ngày 07/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1970. “có mặt”
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. - Bị đơn: Cháu Nguyễn Hoàng Ẩ, sinh ngày 18/3/2010.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Tạm trú: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Ẩ là bà Dương Thị T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (mẹ ruột của cháu Ẩ). “vắng mặt” - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972. “có mặt”
- Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1974. “có mặt”
- Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1976. “có mặt”
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/12/2013 và trong quá trình làm việc nguyên đơn là bà Nguyễn Thị V trình bày:
Cha mẹ bà là cụ Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 1946, chết năm 1982) và cụ Trần Thị R (sinh năm 1950, chết ngày 01/5/2023). Cha mẹ có 05 người con: Nguyễn Thị V (bà); Nguyễn Thị T1; Nguyễn Hoàng Đ; Nguyễn Hoàng S và Nguyễn Văn Ú (chết ngày 03/02/2023, có vợ là bà Dương Thị T, đã ly hôn năm 2014 và có 01 người con tên Nguyễn Hoàng Ẩ, sinh ngày 18/3/2010). Ngoài ra, cha mẹ không có con nuôi, con riêng gì khác. Khi sống cha mẹ bà tạo lập được khối tài sản là phần đất có diện tích 1.243,7m², thuộc thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 193160 (gọi tắt giấy CN.QSDĐ) được cấp cho cụ Trần Thị R đứng tên ngày 10/12/2019 và 01 căn nhà tường cấp 4 có diện tích ngang 13m x dài 37m trên thửa đất nêu trên. Ngoài ra, không còn di sản nào khác. Qua kết quả thẩm định tại chỗ phần đất có diện tích thực tế là 1.134,3m² và phần căn nhà có diện tích 108,8m²; tổng cộng trị giá: 2.136.647.680 đồng (trong đó đất là 1.824.000.000 đồng + nhà là 312.647.680 đồng). Ngoài ra, còn có các tài sản khác là máy che, hàng rào B40 và cây trồng trên phần đất thực tế. Hiện tại, nhà do ông Nguyễn Hoàng S đang ở để thờ cúng cha mẹ và ông Ú, còn giấy CN.QSDĐ do bà đang giữ. Khi chết, cha mẹ bà không để lại di sản thừa kế và trong gia đình không thỏa thuận được việc chia di sản của cha mẹ. Do đó, bà yêu cầu chia di sản của cụ R và cụ Đ1 thành 05 phần, mỗi người được hưởng 01 phần, trong đó ưu tiên cho ông S được hưởng phần đất có căn nhà để thờ cúng cụ R và cụ Đ1. Đối với máy che, hàng rào B40 và cây trồng không tranh chấp, ai được hưởng thì phần đất nào thì hưởng những tài sản đó.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn – bà Dương Thị T đã khai:
Bà thống nhất lời trình bày của bà V về quan hệ huyết thống và phần di sản thừa kế của cụ R và cụ Đ1 là phần đất có diện tích thực tế là 1134,3m² và căn nhà trên đất có diện tích 108,8m²; tổng cộng trị giá: 2.136.647.680 đồng. Do cháu Ẩ và các bác không thỏa thuận được việc phân chia di sản thừa kế của cụ R và cụ Đ1 nên đề nghị Tòa án chia phần di sản thừa kế thành 05 phần. Đối với máy che, hàng rào B40 và cây trồng trên đất không tranh chấp, ai được hưởng thì phần đất nào thì hưởng những tài sản đó.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hoàng Đ và ông Nguyễn Hoàng S thống nhất trình bày:
Ông bà thống nhất với trình bày của bà V về quan hệ huyết thống, phần di sản thừa kế của cụ R và cụ Đ1 và yêu cầu chia di sản thành 05 phần, mỗi người được hưởng 01 phần, trong đó ưu tiên cho ông S được hưởng phần đất có căn nhà để thờ cúng cụ R và cụ Đ1. Đối với máy che, hàng rào B40 và cây trồng trên đất không tranh chấp, ai được hưởng thì phần đất nào thì hưởng những tài sản đó.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành tốt những qui định pháp luật, kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Kiểm sát viên không phát hiện có vi phạm.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật Dân sự. Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị V đối với 1134,3m² và phần căn nhà có diện tích 108,8m² thuộc thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh thành 05 kỷ phần cho bà V, cháu Ẩ, ông S, ông Đ và bà T1 hưởng.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về án phí:
Được tính theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với cháu Nguyễn Hoàng Ẩ, cháu Ẩ và di sản thừa kế tại huyện G, tỉnh Tây Ninh. Do đó căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.
[1.2] Bà Dương Thị T là người đại diện theo pháp luật của cháu Ẩ là bị đơn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T.
[2] Về pháp luật áp dụng: Các đương sự thống nhất phần di sản cụ Nguyễn Văn Đ1 và cụ Trần Thị R là phần đất có diện tích thực tế là 1134,3m² và phần căn nhà có diện tích 108,8m², đất do cụ Trần Thị R đứng tên. Cụ R chết ngày 01/5/2023 thời điểm áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 làm pháp luật giải quyết về việc chia thừa kế.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật dân sự quy định “...Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, ..., kể từ thời điểm mở thừa kế...”. Trong vụ án này, phần di sản của cụ Đ1 đã được các đương sự thống nhất gộp vào phần di sản của cụ R và cụ R đã được cấp giấy CN.QSDĐ, nhưng chưa được chia. Cụ R chết ngày 01/5/2023 nên thời điểm mở thừa kế là ngày 01/5/2023, như vậy thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế vẫn còn.
[4] Xác định di sản thừa kế: Theo kết quả thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì các đương sự đều thống nhất tài sản của cụ Đ1 và cụ R, gồm:
- Phần đất có diện tích thực tế 1134,3m², thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Theo giấy CN.QSDĐ số CT 193160 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp cho cụ Trần Thị R đứng tên ngày 10/12/2019. Trong đó phần diện tích theo giấy 1.243,7m²: có 100m² đất thổ cư; 335,2m² đất trồng cây lâu năm và 808,5m² đất trồng cây hàng năm khác. Giá trị phần đất là 1.824.000.000 đồng (tương đương 1.608.000 đồng/m²).
- Trên thửa đất số 1149, có căn nhà tường cấp 4, diện tích 108,8m². Giá trị tài sản là 312.647.680 đồng.
Tổng cộng phần di sản của cụ Đ1 và cụ R có giá trị là 2.136.647.680 đồng đồng.
[5] Về hàng thừa kế: Cụ Đ1 và cụ R có 05 người con chung, trong đó ông Nguyễn Văn Ú (chết ngày 03/02/2023) là cha ruột của cháu Nguyễn Hoàng Ẩ, chết trước cụ R (chết ngày 01/5/2023) nên cháu Ẩ là người thừa kế thế vị của ông Ú theo Điều 652 của Bộ luật dân sự. Do đó, hàng thừa kế của cụ Đ1 và cụ R gồm có bà V, cháu Ẩ, ông Đ, ông S và bà T1.
[6] Về nội dung khởi kiện: Các đương sự đều thống nhất phần di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ R để lại, nhưng không thống nhất cách chia di sản nên đề nghị Hội đồng xét xử chia thành 5 kỷ phần theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xác định một kỷ phần thừa kế theo pháp luật là 427.330.000 đồng. Hiện tại, ông S là người đang quản lý căn nhà và sử dụng vào việc thờ cúng cha mẹ nên các đương sự thống nhất giao phần đất có căn nhà cho ông S hưởng. Phần di sản chia theo hiện vật như sau:
- Bà V được hưởng: Phần đất có diện tích là 171,4m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,0m², đất trồng cây hằng năm khác 84,4m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có giá trị 275.611.200 đồng, do bà V được hưởng phần di sản là 427.330.000 đồng nên bà V còn được hưởng số tiền chệch lệch là 157.718.800 đồng.
- Cháu Ẩ được hưởng: Phần đất có diện tích là 250,5m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,0m², đất trồng cây hằng năm khác 163,5m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có giá trị 402.804.000 đồng, do cháu Ẩ được hưởng phần di sản là 427.330.000 đồng nên cháu Ẩ còn được hưởng số tiền chệch lệch là 24.526.000 đồng.
- Ông S được hưởng: Phần đất có diện tích là 375,0m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,2m², đất trồng cây hằng năm khác 287,8m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh + căn nhà tường cấp 4 trên phần đất này, có diện tích 108,8m². Tổng trị giá là 915.647.680 đồng, do ông S được hưởng tổng cộng 427.330.000 đồng nên ông S có nghĩa vụ trả số tiền chệch lệch là 488.317.680 đồng.
- Ông Đ được hưởng: Phần đất có diện tích là 167,7m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67m², đất trồng cây hằng năm khác 80,7m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có giá trị 269.661.600 đồng, do ông S được hưởng phần di sản là 427.330.000 đồng nên ông Đ còn được hưởng số tiền chệch lệch là 157.668.400 đồng.
- Bà T1 được hưởng: Phần đất có diện tích là 169,7m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67m², đất trồng cây hằng năm khác 82,7m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có giá trị 272.877.600 đồng, do bà T1 được hưởng phần di sản là 427.330.000 đồng nên bà T1 còn được hưởng số tiền chệch lệch là 154.452.400 đồng.
Do đó, ông S có nghĩa vụ giao lại cho bà V số tiền chênh lệch là 151.718.800 đồng (làm tròn thành 151.719.000 đồng); ông S có nghĩa vụ giao lại cho cháu Ẩ (do bà T quản lý) số tiền chênh lệch là 24.526.000 đồng; ông S có nghĩa vụ giao lại ông Đ số tiền chênh lệch là 157.668.400 đồng (làm tròn thành 157.668.000 đồng) và ông S có nghĩa vụ giao lại cho bà T1 số tiền chênh lệch là 154.452.400 đồng (làm tròn thành 154.452.000 đồng).
[7] Ghi nhận các đương sự không yêu cầu giải quyết đối với diện tích 109,4m², nằm trong thửa đất 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh nhưng do người khác đang sử dụng.
[8] Đối với máy che, hàng rào B40 và cây trồng trên đất. Ghi nhận các đương sự không tranh chấp và thống nhất ai được hưởng phần đất nào thì hưởng những tài sản đó.
[9] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Các đương sự phải chịu theo tỷ lệ giá trị phần tài sản được chia. Bà V, ông Đ, ông S, bà T1 và cháu Ẩ phải chịu số tiền 1.143.000 đồng. Ghi nhận bà V đã nộp 5.715.000 đồng và chi xong nên ông S, ông Đ, bà T1 và cháu Ẩ (do bà T là người đại diện) có nghĩa vụ hoàn trả cho bà V số tiền 1.143.000 đồng.
[11] Về án phí: Bà V, ông S, ông Đ và bà T1 phải chịu án phí trên số tiền 427.330.000 đồng được hưởng. Cháu Ẩ được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật dân sự; Điều 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị V.
- Giao cho bà Nguyễn Thị V hưởng tài sản như sau:
- - Diện tích thực tế là 171,4m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,0m², đất trồng cây hằng năm khác 84,4m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- + Phía Đông Bắc giáp thửa đất số 1148 là 47,06m;
- + Phía Đông Nam giáp đường nhựa là 3,7m;
- + Phía Tây Nam giáp thửa đất số 1149 (phần bà T1 được chia) là 46,54m;
- + Phía Tây Bắc giáp đường đất là 3,7m.
- - Diện tích thực tế là 171,4m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,0m², đất trồng cây hằng năm khác 84,4m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- Giao cho cháu Nguyễn Hoàng Ẩ được hưởng các tài sản như sau:
- - Diện tích thực tế là 250,5m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,0m², đất trồng cây hằng năm khác 163,5m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- + Phía Đông Bắc giáp đường đất là 7,42m;
- + Phía Đông Nam giáp thửa đất số 1149 (phần ông Đ được chia) là 45,54m;
- + Phía Tây Nam giáp đường nhựa là 3,77m;
- + Phía Tây Bắc giáp thửa đất số 998, 999, 1000, 1001, 1002 và 1149 (phần ông S được chia) lần lượt là 10,8m, 4,99m, 6,0m, 6,7m, 5,24m và 10,72m.
- - Diện tích thực tế là 250,5m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,0m², đất trồng cây hằng năm khác 163,5m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- Giao cho ông Nguyễn Hoàng S được hưởng các tài sản như sau:
- - Diện tích thực tế là 375,0m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,2m², đất trồng cây hằng năm khác 287,8m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- + Phía Đông Bắc giáp đường đất là 37,22m và 4,13m;
- + Phía Đông Nam giáp thửa đất số 1149 (phần cháu Ẩ được chia) là 10,72m;
- + Phía Tây Nam giáp thửa đất số 1149 là 13,41m và 25,58m;
- + Phía Tây Bắc giáp đường nhựa là 7,93m.
- Và tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà tường cấp 4, có diện tích 108,8m².
- - Diện tích thực tế là 375,0m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67,2m², đất trồng cây hằng năm khác 287,8m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- Giao cho ông Nguyễn Hoàng Đ được hưởng các tài sản như sau:
- - Diện tích thực tế là 167,7m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67m², đất trồng cây hằng năm khác 80,7m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- + Phía Đông Bắc giáp đường đất là 3,7m;
- + Phía Đông Nam giáp thửa đất số 1149 (phần bà T1 được chia) là 46,05m;
- + Phía Tây Nam giáp đường nhựa là 3,7m;
- + Phía Tây Bắc giáp thửa đất số 1149 (phần cháu Ẩ được chia) là 45,54m;
- - Diện tích thực tế là 167,7m² (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67m², đất trồng cây hằng năm khác 80,7m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- Giao cho bà Nguyễn Thị T1 được hưởng các tài sản như sau:
- - Diện tích thực tế là 169,7 (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67m², đất trồng cây hằng năm khác 82,7m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- + Phía Đông Bắc giáp đường đất là 3,7m;
- + Phía Đông Nam giáp thửa đất số 1149 (phần bà T1 được chia) là 46,54m;
- + Phía Tây Nam giáp đường nhựa là 3,7m;
- + Phía Tây Bắc giáp thửa đất số 1149 (phần ông Đ được chia) là 46,05m.
(Kèm theo Bản trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính ngày 29/01/2024)
- - Diện tích thực tế là 169,7 (đất thổ cư 20m², đất trồng cây lâu năm 67m², đất trồng cây hằng năm khác 82,7m²), thửa đất số 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
- Về nghĩa vụ giao số tiền chênh lệch:
- - Buộc ông Nguyễn Hoàng S có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị V số tiền 151.719.000 (một trăm năm mươi mốt triệu bảy trăm mươi chín nghìn) đồng.
- - Buộc ông Nguyễn Hoàng S có nghĩa vụ giao cho cháu Nguyễn Hoàng Ẩ (bà Dương Thị T quản lý) số tiền 24.526.000 (hai mươi bốn triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn) đồng.
- - Buộc ông Nguyễn Hoàng S có nghĩa vụ giao cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền 157.668.000 (một trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
- - Buộc ông ông Nguyễn Hoàng S có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 154.452.000 (một trăm năm mươi tư triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn) đồng.
- Ghi nhận các đương sự không yêu cầu giải quyết đối với diện tích 109,4m², nằm trong thửa đất 1149, tờ bản đồ số 6, tại ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh nhưng do người khác đang sử dụng.
Do cháu Ẩ dưới 15 tuổi nên giao cho bà Dương Thị T là mẹ ruột cháu Ẩ quản lý.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị V, bà Dương Thị T, ông Nguyễn Hoàng Đ, bà Nguyễn Thị T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Hoàng S chưa thanh toán số tiền nêu trên thì ông S còn phải chịu số tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thanh toán xong.
- Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo theo bản án như phần quyết định đã tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Đối với máy che, hàng rào B40 và cây trồng trên đất. Ghi nhận các đương sự không tranh chấp và thống nhất ai được hưởng phần đất nào thì hưởng những tài sản đó.
- Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị V, bà Dương Thị T (đại diện cháu Nguyễn Hoàng Ẩ), ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Nguyễn Hoàng S và bà Nguyễn Thị T1 mỗi người phải chịu số tiền 1.143.000 đồng. Ghi nhận bà V đã nộp số tiền 5.715.000 đồng và chi xong nên bà T, ông Đ, ông S và bà T1 có nghĩa vụ mỗi người hoàn trả cho bà V số tiền 1.143.000 (một triệu một trăm bốn mươi ba nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- 5.1. Bà Nguyễn Thị V phải chịu 21.093.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, cho khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự 2.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013501 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Bà V còn phải chịu 18.593.000 (mười tám triệu năm trăm chín mươi ba nghìn) đồng.
- 5.2. Cháu Nguyễn Hoàng Ẩ được miễn án phí.
- 5.3. Ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Nguyễn Hoàng S và bà Nguyễn Thị T1 mỗi người phải chịu 21.093.000 (hai mươi mốt triệu không tăm chín mươi ba nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Nguyễn Hoàng S và bà Nguyễn Thị T1 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Dương Thị T (đại diện cháu Ẩ) được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Tiến Danh |
Bản án số 72/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 72/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa Nguyễn Văn L - Nguyễn Văn A
