1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 72/2024/HSST Ngày 17/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đương.
2. Bà Phan Thị Ánh Duyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024, đối với bị cáo:
| Họ tên: NGUYỄN VIỆT C; | Giới tính: Nam |
| Tên gọi khác: Không. |
Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1982 tại T, Phú Thọ
Nơi thường trú: phố P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi tạm trú và nơi ở hiện nay: khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
| Quốc tịch: Việt Nam; | Dân tộc: Kinh; | Tôn giáo: Không. |
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.
Bố đẻ: Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Phạm Thị T, sinh năm 1958, hiện đều ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ
Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Vợ: Đinh Thị Hồng V1, sinh năm 1982 hiện ở thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án: không; tiền sự: Không
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ. Hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1980. (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Ninh Q, sinh năm 1985.(Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu H, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Khu H, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
2
- Anh Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1997.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 (V4). Địa chỉ: Số H Láng HạQuận Đống Đ phố H.
Địa chỉ: Khu C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(Vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức V2 – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- - Anh Nguyễn Việt H – Chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ Ngân hàng V4. (Vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Chí H1, sinh năm 1983 – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng V4, nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường P, quận L, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 06/12/2022, Nguyễn Việt C2, sinh ngày 10/8/1982, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phố P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; hiện đang tạm trú và ở tại khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ có nhu cầu mua xe ô tô để sử dụng làm phương tiện đi lại. Tuy nhiên, do C2 không có đủ tiền mua xe ô tô và đang có nợ xấu trong ngân hàng, C2 không thể đứng tên để làm thủ tục vay trả góp mua xe nên C2 đã nhờ em rể là anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1980 ở Khu H, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ đứng tên để mua chiếc xe ô tô biển số 98A - 35391, nhãn hiệu: BAIC, số loại: CHANGHE; màu sơn: Ghi, của anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1977 ở Phường P, quận T, thành phố Hà Nội với số tiền 442.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu đồng). C2 đưa cho anh Đào số tiền 162.000.000đ (một trăm sáu mươi hai triệu đồng) để mua xe, số tiền thiếu còn lại là 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng) anh Đào cùng vợ là chị Nguyễn Ninh Q, sinh năm 1985 đứng ra ký hợp đồng vay ngân hàng V3 (V5), chi nhánh thành phố H và sử dụng chiếc xe ô tô trên làm tài sản thế chấp tại ngân hàng. Sau khi ký kết hợp đồng mua xe, anh Đào đã làm thủ tục sang tên xe, ngày 13/12/2022 cấp đổi biển số xe mới là 19A – 492.20, giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên anh Đặng Văn Đ. Ngày 16/12/2022 anh Đào và chị Q ký hợp đồng thế chấp số LN2212077703770 với Ngân hàng V4, ngân hàng đã giữ lại giấy chứng nhận đăng ký gốc của chiếc xe ô tô biển số 19A – 492.20 để đảm bảo cho khoản vay của anh Đào, chị Q. Trong thời gian thế chấp, Ngân hàng V5 và anh Đào, chị Q thỏa thuận anh Đào, chị Q được tiếp tục sử dụng tài sản bảo đảm nhưng phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh Đào, chị Q có Q khai thác công dụng của tài sản bảo đảm, nhưng không được dùng tài sản bảo đảm để bán/chuyển nhượng, tặng, cho, đổi, thế chấp, góp vốn, đảm bảo nghĩa vụ khác hoặc định đoạt tài sản bảo đảm dưới bất kỳ hình thức nào khác, trừ khi có sự đồng ý bằng văn bản của Ngân hàng V5.
Sau khi nhận xe ô tô biển số 19A – 49220 về thì anh Đặng Văn Đ đã giao lại chiếc xe trên cho Nguyễn Việt C2 sử dụng. Hàng tháng, C2 chuyển tiền lãi và
3
gốc cho anh Đào trả ngân hàng theo hợp đồng vay thế chấp. Đến đầu tháng 4/2023, do cần tiền trả nợ nên C2 đã nảy sinh ý định làm giả đăng ký của xe ô tô 19A – 492.20 để mang đi bán lấy tiền trả nợ. Cương tìm trên mạng xã hội Facebook (C2 không nhớ tên tài khoản này) và đặt mua đăng ký xe ô tô biển số 19A – 492.20 giả mang tên chủ xe NGUYỄN VIỆT CƯƠNG với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Cương chụp ảnh rồi gửi ảnh đăng ký gốc của xe ô tô 19A – 49220 và chuyển khoản đặt cọc trước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) (C2 không nhớ thời gian chuyển tiền, họ tên người nhận tiền). Sau đó khoảng 01 tuần, C2 nhận được chứng nhận đăng ký xe ô tô giả được gửi qua đường chuyển phát nhanh, C2 kiểm tra thấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả lại đứng tên anh ĐẶNG VĂN Đ1, có hình thức giống như đăng ký xe ô tô thật, do không muốn mất nhiều thời gian gửi đi gửi lại nên C2 nhận đăng ký xe giả này rồi thanh toán 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) cho nhân viên giao hàng. Đến ngày 26/04/2023, C2 đã liên hệ với anh Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1997 ở khu C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ để bán chiếc xe trên với giá 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Khi bán chiếc xe trên, C2 nói với anh C1 chiếc xe trên là của C2 mua lại của em rể là Đặng Văn Đ đồng thời gửi cho anh C1 xem ảnh sổ hộ khẩu; căn cước công dân của anh Đào, chị Q, giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Đào và chị Q, giấy chứng nhận đăng ký xe của xe ô tô biển số 19A – 492.20, giấy chứng nhận kiểm định; hợp đồng mua bán xe ô tô có công chứng lập ngày 06/12/2022 giữa ông Nguyễn Quang T1 với anh Đặng Văn Đ. Do tin tưởng xe ô tô trên là của C2, anh C1 không biết xe ô tô trên đang thế chấp tại ngân hàng và Giấy chứng nhận đăng ký xe Cương đưa anh C1 là giả nên đồng ý mua xe ô tô trên với giá 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). C2 đã viết giấy bán xe cho anh C1, giao cho anh C1 chiếc xe ô tô biển số 19A – 492.20 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe giả của xe ô tô biển số 19A – 492.20 mà C2 mua trên mạng trước đó, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 hợp đồng mua bán xe ô tô có công chứng lập ngày 06/12/2022 giữa ông Nguyễn Quang T1 với anh Đặng Văn Đ. Anh C1 thanh toán số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) cho C2 bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng V6 số tài khoản 0801000272757 mang tên NGUYEN NGOC CUONG vào số tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (MB) 58687888999, chủ tài khoản mang tên NGUYEN VIET CUONG, nội dung chuyển khoản “Mua xe o to 19a49220”. C2 đã nhận được số tiền trên rồi dùng để trả nợ và tiêu sài cá nhân hết. Sau khi mua xe của C2 thì anh C1 nhiều lần yêu cầu C2 cho anh C1 gặp anh Đào và cung cấp cho anh C1 căn cước công dân của anh Đào để anh C1 làm thủ tục sang tên chủ xe, nhưng do giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô là giả nên C2 tìm lý do để từ chối. Đến ngày 31/12/2023 C2 khai nhận với anh C1 việc C2 mua thế chấp chiếc xe ô tô biển số 19A-429.20, giấy chứng nhận đăng ký xe ngân hàng đang giữ nên C2 mua giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả để lừa bán xe cho anh C1. Cùng ngày, anh C1 làm đơn trình báo đến Công an thị trấn C và Công an huyện C để giải quyết theo quy định.
Ngày 31/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã: Tạm giữ của anh Nguyễn Ngọc C1:
4
- 01 (một) Xe ô tô biển số 19A – 49220, nhãn hiệu: BAIC, màu sơn: Ghi; số khung: LNBMCUAK8KZ074641; số máy: 4A91TS2VJ257
- 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 19 000426, tên chủ xe Đặng Văn Đ 1980 địa chỉ khu H Đ, T, Phú Thọ; biển số đăng ký 19A-49220 do Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 13/12/2022.
- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số KD 7716395, biển đăng ký: 98A – 35391, nhãn hiệu: BAIC; số khung: LNBMCUAK8KZ074641; số máy: 4A91TS2VJ257 (là đăng kiểm cũ của xe ô tô biển số 19A - 49220 khi chưa sang tên).
- 01 (một) giấy bán xe ô tô ngày 26/4/2023 giữa Nguyễn Ngọc C1 và Nguyễn Việt C2.
- 01 (một) hợp đồng mua bán ô tô giữa ông Nguyễn Quang T1 với anh Đặng Văn Đ.
Đây là xe ô tô và giấy tờ xe mà Nguyễn Việt C2 bán, giao cho anh C1 khi anh C1 mua xe ô tô của C2.
Tạm giữ của Nguyễn Việt C2: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung kiểu dáng Galaxy Note 10 Plus có số seri: RF8M90KT1PV lắp 02 sim số 0981139838 và 0977427838. C2 khai nhận chiếc điện thoại này C2 sử dụng để liên lạc mua giấy chứng nhận giả của xe ô tô biển số 19A-49220.
Ngày 01/02/2024, anh Nguyễn Chỉ H2, sinh năm 1983 ở tổ B phường P, L, Hà Nội - Người đại diện Ngân hàng V3 giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C: 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 19 0000426, tên chủ xe Đặng Văn Đ, SN 1980 ở khu H Đ, T, Phú Thọ biển số đăng ký 19A-49220, được niêm phong trong 01 túi nilon trong suốt, cắt mép được dán kín và được dán tem niêm phong “Nguyên Thực 45266 Trung tâm KTTLNV- Bộ C3”
Ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định đối với giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 19 000426 do anh Nguyễn Ngọc C1 giao nộp. Ngày 11/01/2024, Phòng K Công an tỉnh P có kết luận giám định số 64/KL – KTHS, kết luận: “Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 19 000426 gửi giám định (ký hiệu A) là giả”.
Ngày 15/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C yêu cầu định giá chiếc xe ô tô trên tính đến ngày 24/4/2023 trên. Tại kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 23/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 19A – 492.20 là 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Ngày 09/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định Giấy bán xe ô tô đứng tên người bán Nguyễn Việt C2, người mua Nguyễn Ngọc C1 có phải do Nguyễn Việt C2 viết hay không. Ngày 17/05/2024 Phòng K Công an tỉnh P có bản kết luận số: 655/KL-KTHS kết luận: “Chữ ký đứng tên Nguyễn Việt C2 và chữ viết (trừ chữ viết dưới mục “người mua") trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với mẫu chữ ký, chữ
5
viết của Nguyễn Việt C2 trên mẫu so sánh (Ký hiệu M) là do cùng một người ký và viết ra”.
Ngày 01/01/2024, Nguyễn Việt C2 đã bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Ngọc C1 số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Anh C1 đã nhận đầy đủ số tiền trên, không có ý kiến, đề nghị gì khác. Ngày 25/4/2024 ngân hàng V5 có thông báo về việc hiện tại anh Đặng Văn Đ cùng vợ là chị Nguyễn Ninh Q đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho vay, hợp đồng thế chấp tại V5.
Quá trình giải quyết vụ án, bị can Nguyễn Việt C2 khai báo về việc nhờ anh Đ mua xe ô tô trên và đứng ra ký hợp đồng thế chấp xe ô tô với ngân hàng, việc C2 mua giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả như trên là đúng. Tuy nhiên bị can khai bị can không bán xe ô tô cho anh Nguyễn Ngọc C1 mà chỉ cầm cố chiếc xe ô tô trên cho anh Nguyễn Ngọc C1 với giá là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), lãi suất 2.000đ/1 triệu/ ngày. Để hợp thức việc này thì C2 và anh C1 thống nhất C2 viết giấy bán xe ô tô cho anh C1 với giá tiền 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng). Bị can C2 đã trả lãi 01 tháng đầu tiên số tiền 18.000.000₫ (mười tám triệu đồng) vào ngày 29/05/2023 cho anh C1 bằng cách chuyển tiền từ ngân hàng M số tài khoản 5868788899 của Nguyễn Việt C2 đến số tài khoản 1018494735 ngân hàng V6 mang tên “Nguyen Van T2”. Các tháng tiếp theo, C2 không có khả năng trả lãi cho anh C1. Quá trình điều tra, xác định chủ tài khoản 1018494735 ngân hàng V6 mang tên: “Nguyen Van Thai” là của anh Nguyễn Văn T3, Sinh năm 1996 ở khu C xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ (anh C1 và anh T3 làm chung quán mua bán điện thoại). Anh T3 khai báo không có mối quan hệ gì với Nguyễn Việt C2, bản thân anh T3 làm quán bán điện thoại thường xuyên có khách đến nhờ đổi tiền mặt chuyển tiền vào tài khoản hoặc mua hàng, bình thường anh T3 chỉ nhìn vào số tiền chuyển khoản đến là bao nhiêu chứ không nhìn vào nội dung chuyển khoản, có thể ngày 29/05/2023 anh C2 lấy tiền mặt và chuyển khoản cho anh T3 nên mới ghi nội dung là: “Chuyển khoản lại e Cl”. Bản thân anh C1 cũng không nói gì với anh T3 về số tiền trên. Ngày 05/01/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có công văn yêu cầu ngân hàng N (V6) cung cấp lịch sử giao dịch chuyển tiền đi, chuyển tiền đến của số tài khoản 1018494735 từ ngày 29/5/2023 đến ngày 06/6/2023? Tại sao kê tài khoản của ngân hàng V6 thể hiện từ ngày 29/5/2023 đến ngày 06/6/2023 số tài khoản 1018494735 của anh Nguyễn Văn T3 không chuyển khoản số tiền 18.000.000đ cho số tài khoản nào. Bị can C2 không cung cấp được tài liệu gì chứng minh việc bị can thoả thuận cầm cố xe ô tô với anh C1. Tại cơ quan điều tra anh Nguyễn Ngọc C1 trình bày, khi anh mua xe của C2 do biết C2 đang cần tiền nên bán ô tô giá rẻ hơn giá trị thực tế của xe, nếu anh mua xe của C2 với giá 300.000.000đ rồi bán lại cho người khác thì anh C1 mới có lãi nên anh mới mua xe của C2. Quá trình điều tra, không có đủ căn cứ chứng minh bị can C2 đem xe ô tô đi cầm cố cho anh Nguyễn Ngọc C1 để vay tiền.
Ngày 08/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê ban hành Cáo trạng số: 42/CT-VKSCK-HS và chuyển hồ sơ vụ án đến Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê để truy tố bị can: Nguyễn Việt C2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
6
sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Thực hiện Công văn số: 169/CV-VKSPT-P2 ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ theo về việc Giải quyết vụ án như sau: Đối với khoản vay tại ngân hàng V4 thế chấp bằng chiếc xe ô tô Biển số 19A-49220 là tài sản của Nguyễn Việt C2 do anh Đặng Văn Đ và chị Nguyễn Ninh Q đứng tên vẫn đang thực hiện nghĩa vụ và không vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, khoản vay chưa hết thời hạn trả nợ ngân hàng. Đối với tài sản đã bán là chiếc xe ô tô biển số 19A-49220 là tài sản thuộc sở hữu của Nguyễn Việt C2. Nguyễn Việt C2 bán chiếc xe này cho người mua là anh Nguyễn Ngọc C1 với số tiền 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng). Anh C1 vẫn đang quản lý xe, chưa mất quyền sở hữu đối với số tiền bỏ ra mua xe, do vậy chưa có căn cứ xác định C2 có hành vi chiếm đoạt đối với số tiền 300.000.000đ của anh Nguyễn Ngọc C1. Yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê: Rút quyết định truy tố đối với C2 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và rút một phần quyết định truy tố đối với C2 về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự để truy tố theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê đã có công văn số: 02/VKSCK về việc rút hồ sơ vụ án hình sự nêu trên. Ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê ra quyết định đình chỉ một phần vụ án số: 01/QĐ-VKSCK và quyết định đình chỉ một phần vụ án đối với bị can Nguyễn Việt C2 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi còn lại của bị can Nguyễn Việt C2 phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số 59/2024/CT-VKSCK, ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Việt C2 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Việt C2 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- * Áp dụng: Khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
- * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt C2 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt C2 từ 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ đến 19 (Mười chín) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Việt C2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Việt
7
C2 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Việt C2.
Buộc bị cáo Nguyễn Việt C2 phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
* Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a,c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung kiểu dáng Galaxy Note 10 Plus có số seri: RF8M90KT1PV.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 sim số 0981139838 và 0977427838.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng hình sự:
- [2] Về căn cứ buộc tội:
Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong vụ án này do Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê ra quyết định đình chỉ một phần vụ án đối với bị can Nguyễn Việt C2 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đối với anh Nguyễn Ngọc C1 trong vụ án này chỉ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.
Căn cứ công văn số: 169/CV-VKSPT-P2 ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về việc Giải quyết vụ án như sau: Đối với khoản vay
8
tại ngân hàng V4 thế chấp bằng chiếc xe ô tô Biển số 19A-49220 là tài sản của Nguyễn Việt C2 do anh Đặng Văn Đ và chị Nguyễn Ninh Q đứng tên vẫn đang thực hiện nghĩa vụ và không vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, khoản vay chưa hết thời hạn trả nợ ngân hàng. Đối với tài sản đã bán là chiếc xe ô tô biển số 19A-49220 là tài sản thuộc sở hữu của Nguyễn Việt C2. Nguyễn Việt C2 bán chiếc xe này cho người mua là anh Nguyễn Ngọc C1 với số tiền 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng). Anh C1 vẫn đang quản lý xe, chưa mất quyền sở hữu đối với số tiền bỏ ra mua xe, do vậy chưa có căn cứ xác định C2 có hành vi chiếm đoạt đối với số tiền 300.000.000đ của anh Nguyễn Ngọc C1. Yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê: Rút quyết định truy tố đối với C2 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và rút một phần quyết định truy tố đối với C2 về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự để truy tố theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê đã có công văn số: 02/VKSCK về việc rút hồ sơ vụ án hình sự nêu trên.
Ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê ra quyết định đình chỉ một phần vụ án số: 01/QĐ-VKSCK và quyết định đình chỉ một phần vụ án đối với bị can Nguyễn Việt C2 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi còn lại của bị can Nguyễn Việt C2 phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Do Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê đã đình chỉ một phần vụ án và đình chỉ một phần vụ án đối với bị can Nguyễn Việt C2 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, truy tố C2 về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nên Hội đồng xét xử không xem xét tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của C2. Hành vi còn lại của bị cáo Nguyễn Việt C2 phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ cần chấp nhận.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận: Tháng 12/2022, Nguyễn Việt C2, đã nhờ em rể là anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1980 ở Khu H, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ đứng tên mua xe ô tô biển số 19A – 492.20 sau đó anh Đào cùng vợ là chị Nguyễn Ninh Q, sinh năm 1985 cùng ký hợp đồng thế chấp xe ô tô trên tại ngân hàng V3 (V5) để vay số tiền 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng), Ngân hàng V5 đã giữ lại chứng nhận đăng ký gốc của chiếc xe ô tô biển số 19A – 492.20 để đảm bảo cho khoản vay của anh Đào, chị Q. Sau đó anh Đặng Văn Đ đã giao lại chiếc xe trên cho Nguyễn Việt C2 sử dụng. Do không có giấy Giấy chứng nhận đăng ký xe (bản gốc) nên khoảng tháng 4/2023 C2 đã đặt mua trên mạng xã hội Facebook của một người (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe giả tên chủ sở hữu trong giấy chứng nhận đăng ký là Đặng Văn Đ cho xe ô tô nêu trên.
Đến ngày 26/04/2023, Nguyễn Việt C2 sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe giả cho xe ô tô biển số: 19A – 492.20 để bán chiếc xe ô tô nêu trên cho anh Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1997 ở khu C, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ với giá
9
300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Khi bán chiếc xe trên, C2 nói với anh C1 chiếc xe trên là của C2 mua lại của em rể là Đặng Văn Đ đồng thời gửi cho anh C1 xem ảnh sổ hộ khẩu; căn cước công dân của anh Đào cùng vợ là chị Q, giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Đào và chị Q, giấy chứng nhận đăng ký xe của xe ô tô biển số 19A – 492.20, giấy chứng nhận kiểm định; hợp đồng mua bán xe ô tô có công chứng lập ngày 06/12/2022 giữa ông Nguyễn Quang T1 với anh Đặng Văn Đ. C2 đã viết giấy bán xe cho anh C1, giao cho anh C1 chiếc xe ô tô biển số 19A – 492.20 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe giả của xe ô tô biển số 19A – 492.20 mà C2 mua trên mạng trước đó.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Việt C2 đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
Do vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Về tính chất hành vi phạm tội:
- [4] Về tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
- [5]Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- [6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [7] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong xã hội, nên hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm.
Bị cáo C2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo qui định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, của bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đảm bảo giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng
Xét thấy: Kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo sinh sống cùng gia đình nhưng không có tài sản riêng gì có giá trị, bị cáo làm nghề lao động tự do không ổn định, không xác
10
định được thu nhập. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.
- [8] Về vật chứng:
- [9]. Đối với người đã bán “Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô” giả cho C2 như C2 khai, do không có thông tin cụ thể, không có cơ sở xác minh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.
- [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
- [11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung kiểu dáng Galaxy Note 10 Plus có số seri: RF8M90KT1PV bị cáo sử dụng để đăng nhập Facebook mua đăng ký xe ô tô giả để sử dụng vào mục đích vi phạm pháp luật cần tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước; Đối với: 02 sim số 0981139838 và 0977427838 cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với: 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 19 000426 (đăng ký giả) là vật chứng của vụ án lưu theo hồ sơ vụ án.
Anh Đặng Văn Đ đứng tên chủ sở hữu của chiếc xe ô tô biển số 19A – 49220 và thanh toán toàn bộ nghĩa vụ với ngân hàng V5 nên ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe ô tô biển số 19A – 49220 nhãn hiệu: BAIC, màu sơn: Ghi; số khung: LNBMCUAK8KZ074641; số máy: 4A91TS2VJ257 xe cũ đã qua sử dụng, 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 7716395, biển đăng ký: 98A – 35391, nhãn hiệu: BAIC; số khung: LNBMCUAK8KZ074641; số máy: 4A91TS2VJ257; 01 hợp đồng mua bán ô tô giữa Đặng Văn Đ và Nguyễn Quang T1 cho anh Đặng Văn Đ; Trả lại 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 19 000426, tên chủ xe Đặng Văn Đ, biển số đăng ký 19A – 49220, được niêm phong trong 01 túi nilon trong suốt, các mép được dán kín và được dán tem niêm phong: Nguyên thực 45266 trung tâm K1 – Bộ C3” cho anh Nguyễn Chỉ H2 - Người đại diện của ngân hàng V5 cần xác nhận,
– Đối với 01 (một) giấy bán xe ô tô ngày 26/4/2023 giữa anh Nguyễn Ngọc C1 và Nguyễn Việt C2 là vật chứng của vụ án. Hiện lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với anh Đặng Văn Đ và chị Nguyễn Ninh Q đứng ra thế chấp xe ô tô tại Ngân hàng nhưng quá trình C2 sử dụng xe, mua giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và trao đổi mua bán xe ô tô anh chị không tham gia cũng không được biết, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Đào, chị Q là đúng quy định pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
11
- * Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
- * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt C2 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt C2 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Việt C2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Việt C2 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Việt C2.
Buộc bị cáo Nguyễn Việt C2 phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- * Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a,c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung kiểu dáng Galaxy Note 10 Plus có số seri: RF8M90KT1PV.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 sim số 0981139838 và 0977427838.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
- *Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Việt C2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao, nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận: -VKSND huyện Cẩm Khê; -VKSND tỉnh Phú Thọ; -UBND xã nơi B/c cư trú; -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê; -THADS huyện Cẩm khê; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
12
|
-Người tham gia tố tụng; -Lưu hồ sơ+VP. |
Đặng Xuân Bộ |
Bản án số 72/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 72/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
