Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HSST

Ngày: 17/5/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Trần Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 06/3/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22/4/2000 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm Trạng, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Hà Văn Y (sinh năm 1974); Con bà: Nguyễn Thị T (sinh năm 1981); Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Chị Ninh Thị T1, sinh năm 1981 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: TDP A, phường Đ, TP., tỉnh Thái Nguyên.

* Người chứng kiến: Anh Tạ Văn H1; sinh năm 1983; Nơi cư trú: TDP A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 30/11/2023, Hà Văn H đến quán điện tử “Thành Net” ở phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để chơi điện tử. Đến khoảng 01 giờ ngày 01/12/2023 khi H đang chơi thì có một đối tượng (H khai tên là Đ nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) là bạn quen biết xã hội, rủ H đi đến khu vực gần chợ S thuộc phường Đ, thành phố P để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý. Sau đó, H và Đ cùng đi bộ từ quán điện tử đến khu vực chợ S xem có ai sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản thì trộm cắp. Đến khoảng gần 02 giờ cùng ngày, H và Đ đi đến quán B thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P quan sát không thấy ai, khi H và Đ đi vào bên trong quán bia thì phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS: 22Y1-067.80 của chị Ninh Thị T2 (sinh năm 1981, tạm trú tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) dựng trong sân gần khu vực bếp nấu ăn của quán không có ai trông coi, quản lý. H đi vào kiểm tra tình trạng của xe thì thấy xe có khoá cổ. Sau đó, H và Đ đi ra khỏi quán, mục đích để xem có người dân nào ở xung quanh không, khi thấy không có ai thì Đ bảo với H: “Vào khênh ra”. H và Đ cùng nhau đi vào trong quán bia Thu P, đến vị trí chiếc xe mô tô thì Đ khênh đầu xe, còn H khênh đuôi xe rồi di chuyển chiếc xe mô tô ra đến gần cổng ngoài đường, cách vị trí ban đầu chiếc xe khoảng 25mét. Lúc này do có tiếng chó sủa, Đ và H sợ bị người dân phát hiện nên đã bỏ lại chiếc xe mô tô trên và bỏ chạy. H về phòng trọ của H ở tổ dân phố H, phường H, thành phố P, còn Đ đi đâu H không biết. Đến rạng sáng ngày 08/12/2023 khi H và Đ đi lang thang ở khu vực chợ S để tiếp tục trộm cắp tài sản thì bị Công an phường Đ, thành phố P tuần tra phát hiện. Khi đó Đ bỏ chạy thoát, còn H được mời về trụ sở làm việc.

Khoảng 07 giờ ngày 01/12/2023, khi chị Ninh Thị T2 ngủ dậy phát hiện chiếc xe mô tô của mình không còn ở vị trí ban đầu trong bếp nấu ăn của quán, mà ở vị trí cổng quán gần với đường dân sinh. Sau đó, chị T2 kiểm tra lại camera an ninh của quán thì phát hiện vào hồi 01 giờ 50 phút ngày 01/12/2023 có 02 đối tượng nam giới đã trộm cắp tài sản của chị. Ngày 05/12/2023, chị T2 đã làm đơn trình báo và giao nộp 01 USB nhãn hiệu Toshiba ghi hình video hình ảnh các đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản cho Công an phường Đ, thành phố P. Ngày 08/12/2023, Công an phường Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận định giá số 139/KLĐG ngày 09/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA DREAM, màu sơn nâu, dung tích 97cm, BKS: 22Y1-067.80, số máy A08E-1372194, số khung 0804AY072164, đăng ký lần đầu năm 2010, hiện trạng trước khi bị trộm cắp vẫn nguyên vẹn và sử dụng bình thường có giá trị còn lại là: 11.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Ninh Thị T2 đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • - 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba ghi hình video hình ảnh các đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản (niêm phong ký hiệu “U”) được chuyển theo hồ sơ vụ án;
  • - 01 (một) áo khoác dài tay màu đỏ, ở phần ngực áo bên trái có chữ “adidas”, phần ống tay áo có 03 sọc kẻ trắng; 01 (một) quần dài bằng vải màu đen; 01 (một) đôi dép màu trắng, phần quai dép có 04 sọc kẻ màu đen.

Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Với nội dung nêu trên, Bản cáo trạng số 48/CT-VKSPY ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hà Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác dài tay màu đỏ, ở phần ngực áo bên trái có chữ “adidas”, phần ống tay áo có 03 sọc kẻ trắng; 01 (một) quần dài bằng vải màu đen; 01 (một) đôi dép màu trắng, phần quai dép có 04 sọc kẻ màu đen; Tiếp tục lưu giữ 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba ghi hình video hình ảnh các đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản (niêm phong ký hiệu “U”) trong hồ sơ vụ án. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn H đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nói lời sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt bị hại và người chứng kiến. Tuy nhiên, xét thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Văn H tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 01/12/2023, tại quán B thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Hà Văn H cùng một đối tượng không rõ lai lịch và địa chỉ đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS: 22Y1-067.80 có trị giá 11.500.000 đồng của chị Ninh Thị T2, sau đó H bị phát hiện xử lý.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

Điều 173 Bộ luật hình sự.

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung

[4] Tuy nhiên, xem xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo Hà Văn H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Trong vụ án này, bị cáo phạm tội nhưng cũng chưa gây thiệt hại. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. HĐXX thấy rằng không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ sức để răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo H không có nghề nghiệp, công việc ổn định, cũng không có tài sản riêng, phạm tội nhưng cũng chưa gây thiệt hại nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Ninh Thị T2 đã nhận lại chiếc xe mô tô và không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba ghi hình video hình ảnh các đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản (niêm phong ký hiệu “U”) cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;

Đối với 01 (một) áo khoác dài tay màu đỏ, ở phần ngực áo bên trái có chữ “adidas”, phần ống tay áo có 03 sọc kẻ trắng; 01 (một) quần dài bằng vải màu đen; 01 (một) đôi dép màu trắng, phần quai dép có 04 sọc kẻ màu đen là những đồ vật không còn giá trị sử dụng, bị cáo H cũng không đề nghị được nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[9] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.

[10] Các nội dung có liên quan khác: Đối với đối tượng tham gia trộm cắp tài sản cùng Hà Văn H, theo H khai tên là Đ. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra xác minh chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của đối tượng trên, do nhưng đến nay đó chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[11] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  2. Về hình phạt: Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt:

    Hà Văn H 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    - Căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    Giao bị cáo H cho UBND xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo hiện đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
    • - Tiếp tục lưu giữ 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba ghi hình video hình ảnh các đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản (niêm phong ký hiệu “U”) theo hồ sơ vụ án;
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác dài tay màu đỏ, ở phần ngực áo bên trái có chữ “adidas”, phần ống tay áo có 03 sọc kẻ trắng; 01 (một) quần dài bằng vải màu đen; 01 (một) đôi dép màu trắng, phần quai dép có 04 sọc kẻ màu đen.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Phổ Yên;
  • - UBND xã Điềm Thụy;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 72/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử 10 tháng nhưng cho hưởng án treo, thử thách 20 tháng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger