Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-PT

Ngày: 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.

Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu;

Ông Võ Trung Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 63/TLPT-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Đặng Văn T, sinh năm 1981, tại Tiền Giang; (số T CCCD: 0820871008884); nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm hồ; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H (đã chết), con bà Nguyễn Thị M; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 19/9/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án có 01 bị hại, 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và 01 người làm chứng khác không có kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 04/6/2023, Đặng Văn T đi cùng bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (là dì ruột của T) đến nhà bà Đặng Thị T2, sinh năm 1974, nơi thường trú: ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang đang thuê trọ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để đòi tiền mà bà T2 nợ T nhưng bà T2 không chịu trả nên T chở bà T1 về. Trên đường T chở bà T1 về, tức giận việc bà T2 không trả tiền nên T về nhà của mình lấy 01 con dao tự chế bằng kim loại, cán có quấn dây, bọc nhựa màu đen dài 21cm, lưỡi dao màu trắng dài 55cm, mũi nhọn, nơi rộng nhất lưỡi dao 3cm, lưỡi dao có một bề sắc bén rồi điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B3-391.97 quay trở lại tìm bà T2 để đòi tiền. Khi đến nhà bà T2, T thấy bà T2 đang ở sàn nước phía sau nhà rửa chén, T yêu cầu bà T2 trả tiền nhưng bà T2 không trả dẫn đến cự cãi nên T nói “Có trả tiền hay không, có tin tôi chém hay không” thì bà T2 trả lời “không biết, chém đi chém đi”, lúc này T cầm dao tự chế bằng tay phải chém 1 cái trúng vào bàn tay phải của bà T2, bà T2 bỏ chạy thì bị vấp ngã nên T tiếp tục dùng dao chém 01 cái nữa trúng vào bàn tay phải của bà T2. Bà T2 tiếp tục bỏ chạy ra hướng cửa hàng rào thì bị T đuổi kịp rồi dùng dao này chém 02 cái, bà T2 thấy T chém nên đưa khuỷu tay phải lên đỡ thì bị T chém trúng gây thương tích. Sau khi chém bà T2, T điều khiển xe 63B3-391.97 đem con dao gây án về nhà cất giấu. Bà T2, bỏ chạy ra đường hẻm trước nhà, được người dân đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện C. Đến ngày 31/7/2023, bà T2 đến Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang trình báo sự việc.

*Vật chứng, đồ vật thu giữ:

  • - 01 con dao tự chế bằng kim loại, cán có quấn dây, bọc nhựa màu đen dài 21 cm, lưỡi dao màu trắng dài 55 cm, mũi nhọn, nơi rộng nhất lưỡi dao 3 cm, lưỡi dao có 1 bề sắc bén.
  • - 01 xe mô tô 02 bánh loại xe Future 125, biển số 63B3-39197 do bị cáo đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe.

*Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 286-2023/KLTTCT-TTPY ngày 08/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với chị Đặng Thị T2, kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định: Hai sẹo vết thương khuỷu tay phải; Sẹo mổ dọc khuỷu tay phải; Sẹo mổ dọc 1/3 trên ngoài cẳng tay phải; Sẹo mổ trùng sẹo vết thương từ ô mô cái đến mặt lòng đốt 2 ngón I tay phải; Sẹo vết thương mặt lòng ngón II tay phải; Sẹo vết thương mặt lòng ngón III tay phải; Sẹo vết thương mặt lòng đốt 2, 3 ngón IV tay phải; Gãy lồi cầu ngoài đầu dưới xương cánh tay phải; Đứt nhánh thần kinh quay phải, đã phẫu thuật khâu nối thần kinh; Đứt gân gấp, nông sâu ngón I, đã phẫu thuật khâu nối gân, di chứng cứng các khớp liên đốt ngón I tay phải; Đứt gân gấp, nông sâu ngón II đã phẫu thuật khâu nối gân, di chứng cứng các khớp liên đốt ngón II tay phải; Đứt gân gấp, nông sâu ngón III đã phẫu thuật khâu nối gân, di chứng cứng các khớp liên đốt ngón III tay phải; Đứt gân gấp, nông sâu ngón VI đã phẫu thuật khâu nối gân, di chứng cứng các khớp liên đốt ngón IV tay phải.

- Kết quả cận lâm sàng: X Quang: Phương tiện kết hợp xương đầu dưới xương cánh tay phải; Đo điện cơ: Tổn thương hoàn toàn thần kinh quay bên phải.

2. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đặng Thị T2 là 56%. Thương tích Đặng Thị T2 do vật sắc gây nên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 05 tháng 2 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang:

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 46, Điều 47, Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 17 tháng 02 năm 2024, bị cáo Đặng Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Về tố tụng, bị cáo có đơn kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ pháp luật. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

* Bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn T có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung kháng cáo: Khoảng 14 giờ ngày 04/6/2023, do tức giận bà Đặng Thị T2 về việc đòi tiền nợ vay, bị cáo Đặng Văn T về nhà lấy 01 con dao tự chế (bằng kim loại, cán có quấn dây, bọc nhựa màu đen dài 21 cm, lưỡi dao màu trắng dài 55 cm, mũi nhọn, nơi rộng nhất lưỡi dao 3 cm, lưỡi dao có 1 bề sắc bén) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 63B3-391.97 quay trở lại nhà bà Đặng Thị T2 để nói chuyện về số tiền mà bà Đặng Thị T2 phải trả. Sau nhiều lời cự cải qua lại, do bị bà T2 thách thức nên bị cáo dùng dao mang theo chém 01 nhát vào bàn tay phải của bà T2, bà T2 bỏ chạy nhưng bị vấp ngã bị cáo chém tiếp 01 nhát trúng vào bàn tay phải, bà T2 tiếp tục bỏ chạy đến cổng rào thì bị cáo đuổi kịp chém tiếp 02 nhát vào người của bà T2, bà T2 đưa tay lên đỡ nên trúng vào khủyu tay phải gây thương tích. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 56%.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo có ý thức thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, có thiện chí bồi thường thiệt hại cho bị hại, người bị hại có đơn xin bãi nại, bị cáo có thân nhân là người có công cách mạng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định xử phạt bị cáo 06 năm tù.

Xét thấy, nguyên nhân xuất phát chỉ vì mâu thuẫn từ việc không hài lòng trong việc xử lý khoản tiền nợ mà bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm (dao tự chế) xâm phạm sức khỏe của bị hại một cách nghiêm trọng, không những thế sau khi bị hại lâm vào tình trạng mất tự vệ nhưng bị cáo vẫn tiếp tục chém nhiều nhát vào người của bị hại gây ra thương tật cao. Hành vi của bị cáo thể hiện bản tính hung hăng, côn đồ, xem thường pháp luật, gây mất an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do vậy, sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 06 năm tù là tương xứng.

Theo tài liệu kèm theo đơn kháng cáo và trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác, vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[2]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ như nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Bị cáo kháng cáo về hình phạt không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • + Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T.
  • + Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang về hình phạt;

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính bị bắt tạm giam là ngày 19/9/2023.

  • - Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  • - Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • - Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam CATG
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 72/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ ngày 04/6/2023, do tức giận bà Đặng Thị T2 về việc đòi tiền nợ vay, bị cáo Đặng Văn T về nhà lấy 01 con dao tự chế (bằng kim loại, cán có quấn dây, bọc nhựa màu đen dài 21 cm, lưỡi dao màu trắng dài 55 cm, mũi nhọn, nơi rộng nhất lưỡi dao 3 cm, lưỡi dao có 1 bề sắc bén) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 63B3-391.97 quay trở lại nhà bà Đặng Thị T2 để nói chuyện về số tiền mà bà Đặng Thị T2 phải trả. Sau nhiều lời cự cải qua lại, do bị bà T2 thách thức nên bị cáo dùng dao mang theo chém 01 nhát vào bàn tay phải của bà T2, bà T2 bỏ chạy nhưng bị vấp ngã bị cáo chém tiếp 01 nhát trúng vào bàn tay phải, bà T2 tiếp tục bỏ chạy đến cổng rào thì bị cáo đuổi kịp chém tiếp 02 nhát vào người của bà T2, bà T2 đưa tay lên đỡ nên trúng vào khủyu tay phải gây thương tích. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 56%
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger