Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày: 16/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung;
  • Thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương
  • Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phú
  • Ông Nguyễn Đức Kha
  • Ông Nguyễn Bình Dương
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Tuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST- HS ngày 02/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Đình T, sinh năm 1979. Tên gọi khác: Không.

Nơi thương trú và chỗ ở: Thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: Lớp 06/12.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Họ tên bố: Trương Đình T1, sinh năm 1952. Họ tên mẹ: Luyện Thị H, sinh năm 1952. Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981 (Đã chết). Con: Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2018. Gia đình có 04 chị, em. Bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Văn B – Văn phòng luật sưu Phạm Xuân A – Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).

- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981 (Đã chết)

- Đại diện hợp pháp của người bị hại:

  1. Nguyễn Thị N, sinh năm 1960 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

  3. Chị Trương Hoài G, sinh năm 2001 (vắng mặt)
  4. Chị Trương Hoài L, sinh năm 2003 (vắng mặt)
  5. Cháu Trương Trí C, sinh năm 2018 (vắng mặt)

Đều địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Ủy quyền cho ông Đào Văn P, sinh năm 1972

Địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Luyện Thị H, sinh năm 1952 ( có mặt)
  2. Anh Trương Đình T2, sinh năm 1983 (có mặt)
  3. Chị Trương Thị T3, sinh năm 1977 (có mặt)

Đều địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Đình T, sinh năm 1979 và chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981 có quan hệ vợ chồng. T, chị H1 và con út là cháu Trương Trí C, sinh năm 2018 sinh sống cùng bà Luyện Thị H, sinh năm 1952 (mẹ đẻ của T) tại thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Năm 2022, T có biểu hiện mắc bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu nên được gia đình đưa đến Bệnh viện tâm thần tỉnh B để thăm khám và kê đơn uống thuốc điều trị tại nhà.

Tối ngày 18/02/2024, chị H1 đi làm về nhưng không ăn cơm cùng gia đình do đã ăn cơm cùng công ty. T, bà H và cháu C ở nhà ăn cơm trước. Sau đó, chị H1 dạy cháu C học bài còn T nằm ở võng trong phòng khách. Chị H1 lấy thuốc điều trị tâm thần đưa cho T nhưng T không uống, đến khi chuẩn bị đi ngủ, chị H1 tiếp tục lấy thuốc cho T thì T mới uống. T khoá cửa nhà sau đó cùng chị H1, cháu C lên phòng tầng 2 ngủ, còn bà H ngủ dưới phòng tầng 1.

Khi đi ngủ, chị H1 nằm trên giường phía bên trong cùng giáp tường, cháu C nằm giữa, còn T nằm ngoài cùng. Theo T khai, khi nằm trên giường, T nghe thấy tiếng người cậy cửa, doạ giết nên T ngồi dậy và đi ra, vào phòng ngủ nhiều lần nên chị H1 nhắc nhở T vào nằm ngủ. T nằm trên giường nhưng không ngủ được. Lúc này, chị H1 và cháu C đã đi ngủ. Do T nghĩ đến việc có “ma” tìm giết và chị H1 ngoại tình với “ma” sinh ra cháu C nên T đã ngồi dậy, trèo qua người cháu C sang chỗ chị H1 nằm. Chị H1 đang ngủ ở tư thế nằm ngửa, đắp chăn đến ngang ngực. T ngồi lên bụng chị H1, dùng 02 tay bóp vào cổ chị H1, 02 chân của T ghì 02 tay chị H1 xuống không cho cử động. Chị H1 tỉnh dậy vùng vẫy nhưng bị T dùng 02 tay bóp cổ ghì xuống giường nên không chống cự được. Khoảng 05 - 10 phút sau, chị H1 không cử động nữa nên T bỏ tay ra. Sau đó, T dùng 02 tay bẻ cổ chị H1 từ phải qua trái. Thấy chị H1 đã chết, T nảy sinh ý định tự sát nên đã đi ra cầu thang tầng 1 dứt 01 đoạn dây điện để treo cổ thì bà H phát hiện. T thừa nhận với bà H về việc T vừa giết vợ. Thấy vậy, bà H chạy lên phòng ngủ tầng 2 kiểm tra thì thấy chị H1 đã tử vong trên giường.

H gọi điện cho anh Đào Văn P, sinh năm 1972 ở cùng thôn (con rể bà H) và mọi người đến đưa chị H1 đi cấp cứu. Lúc này, T chạy vào trong bếp lấy 01 con dao nhọn có một lưỡi sắc dài 31,5cm, bản rộng nhất 5,5cm, chuôi dao dài 11,5cm tự đâm vào bụng để tự sát thì được bà H và anh Trương Đình T2, sinh năm 1983 ở cùng thôn (em ruột của T) can ngăn, giằng dao ra. Sau đó, T được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu.

Cùng ngày, Trương Đình T đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân (Bút lục 198-199).

* Kết quả khám nghiệm hiện trường

Hiện trường xảy ra vụ việc được xác định tại gia đình bà Luyện Thị H, sinh năm 1952 ở thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang: phía Bắc tiếp giáp đường tỉnh lộ 299B; phía Nam tiếp giáp cánh đồng thôn V, xã Q; Phía Đ tiếp giáp nhà anh Hoàng Văn N1; phía Tây tiếp giáp nhà anh Hoàng Văn T4.

Nhà bà Luyện Thị H là căn nhà 03 tầng xây lệch kích thước (4,5x15,6)m, cửa chính hướng Đông Bắc. Hướng từ ngoài vào trong có 01 gian phòng để xe, có cửa xếp bằng kim loại, gian phòng này có kích thước (4,25x 6,65)m, tiếp giáp gian phòng này là phòng khách có cửa kính đóng, mở bằng 02 cánh cửa có kích thước (3,16x2,7)m, phòng khách có kích thước (4,8x4,5)m. Phía trong phòng khách có kê 01 bộ bàn ghế, 01 kệ ti vi, 01 két sắt kê sát kệ ti vi phía bên trái, phía trên két sắt phát hiện 01 điện thoại nhãn hiệu sam sung có vỏ màu xanh. Tiếp giáp phòng khách phía bên phải là cầu thang có kê 01 tủ lạnh, tiếp giáp cầu thang là phòng ngủ có cửa hướng Đông Nam, đóng mở bằng 01 cánh cửa kim loại có kích thước (2,1x0,9)m. Xem xét phía trong gian phòng có kích thước (3,25x3,03)m. Tại góc phòng phía T có 01 giường gỗ kích thước (2,1x1,7x0,45)m. Dưới gầm giường tại vị trí cách cửa 1,6 m, cách tường Tây Nam 1,1 m phát hiện 05 con dao và 03 chiếc kéo, trong đó 01 con dao nhọn có một lưỡi sắc dài 31,5cm, bản rộng nhất 5,5cm, chuôi dao dài 11,5cm, đầu dao bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu); 01 con dao dài 40,3cm, bản rộng nhất 5,6cm, chuôi dao dài 12,5cm; 01 con dao dài 41cm, bản rộng nhất 6,4cm, chuôi dao dài 12cm; 01 con dao dài 17,4cm, bản rộng nhất 3cm, chuôi dao dài 6,4cm; 01 con dao dài 32cm, có chuôi bằng gỗ dài 14,5cm, bản rộng nhất 5,2cm. Phía trên giường có chăn, màn, quần áo, góc tường phía Đông Bắc kê 01 tủ quần áo màu nâu, góc phía Đông Nam kê 01 bàn gỗ dạng bàn học.

Tiếp giáp phòng ngủ là gian phòng bếp có kích thước (2,56x4,06)m, phía trong gian phòng có bàn bếp, bàn rửa bát, 01 bàn mặt đá bên trên có 02 nồi cơm điện và một số vật dụng khác, tiếp giáp phòng bếp là phòng vệ sinh tầng 1.

Xem xét từ cầu thang lên trên tại chiếu nghỉ tầng hai phát hiện 01 dây điện màu vàng một đầu gắn ổ điện loại ba ổ cắm.

Xem xét gian phòng ngủ tầng 2 phía sau có cửa hướng Đông Nam đóng mở bằng 01 cánh cửa kim loại, cửa có kích thước (2,1x0,9)m, phía trong gian phòng có kích thước (3,25x3,03)m, tại góc phòng phía Đông Bắc kê 01 giường gỗ kích thước (2,1x1,7x0,45)m phát hiện tử thi Nguyễn Thị H1 trong tư thế nằm ngửa, đầu hướng Đông Bắc, đầu tử thi cách tường phía Đông Bắc 0,47m, cách tường T 0,8m, phía trên tử thi đắp 01 chăn nhung màu đỏ, hồng, trắng, dưới đầu tử thi có kê 01 chiếc gối, cách vai trái 0,07 m phát hiện 01 dây chuyền kim loại màu trắng, trên giường có 04 chiếc gối và 01 thú nhồi bông. Tại góc phía Tây Nam kê 01 tủ quần áo bằng gỗ. Trên nền nhà tại vị trí cách cửa 0,75m phát hiện 02 đôi dép màu xanh và màu trắng. Xem xét các phòng khác, các cửa thông ra phía ngoài ở trạng thái chốt trong, không phát hiện dấu vết nào khác. (Bút lục 73-74)

* Kết quả khám nghiệm tử thi

Khám bên ngoài:

Tử thi mặc áo phông cộc tay màu đen, quần hoa nhiều màu, áo nịt ngực màu tím, quần lót màu trắng; dái tai hai bên có 02 khuyên kim loại màu vàng, cổ tay trái có 01 vòng kim loại màu trắng, kiểm tra quần lót mặc trong thấy có 01 băng vệ sinh màu trắng, thấm dịch màu hồng.

Tử thi dài 1,52 m, thể tạng phát triển bình thường, đang trong giai đoạn lạnh, cứng xác.

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

Vùng đầu: tóc đen để dài, hai mắt khép kín, đồng tử hai bên giãn to, hai lỗ tai khô, hai lỗ mũi có dịch màu đỏ chảy từ trong ra. Tím toàn bộ vùng đầu mặt và đầu các ngón tay hai bên; miệng khép không kín, lưỡi trong cung răng.

Vùng cổ: Có dấu hiệu hằn tím da mật độ không đồng nhất, kích thước (07x4,5)cm, trên diện này có vết xước da, mảnh nhỏ, đầu dưới vết xước cách đầu trong xương đòn phải 3,1 cm, hướng từ dưới lên trên, từ phải sang trái mờ dần về phía trên, vết xước dài 1,9 cm.

Kiểm tra kỹ các cơ quan khác bên ngoài không phát hiện dấu vết tổn thương; kiểm tra cơ quan sinh dục thấy màng trinh không rõ hình, rách cũ ở nhiều vị trí, còn chảy dịch màu đỏ qua âm đạo.

Mổ tử thi:

Giải phẫu vùng cổ, ngực, bụng thấy da cơ vùng cổ và tổ chức dưới da bầm tụ máu, vùng ngực bụng không phát hiện tổn thương, các xương sườn không gẫy, khoang lồng ngực hai bên có ít dịch.

Mở khí quản kiểm tra thấy lòng khí phế quản xung huyết mạch, bên trong có nhiều dịch nhầy bọt. Hai phổi phù xung huyết, qua diện cắt có nhiều máu không đông, lẫn dịch bọt. Màng ngoài tim không rách, khoang màng ngoài tim có ít dịch màu vàng chanh, gan màu nâu sẫm, bề mặt nhẵn, diện cắt chắc; dạ dày màu trắng đục, bên trong chưa thức ăn còn phân biệt rõ hạt cơm. (Bút lục 90-91)

* Kết quả giám định:

Tại Bản kết luận giám định số 704/KLGĐTT-KTHS ngày 01/4/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận về nguyên nhân chết và cơ chế hình thành dấu vết, thương tích của Nguyễn Thị H1 như sau:

  • “- Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H1 do ngạt cơ học.
  • - Cơ chế hình thành dấu vết, thương tích:
  • + Diện hằn tím da vùng cổ được hình thành do vật tày có tiết diện giới hạn đè ép với lực mạnh vào các mạch máu vùng cổ gây thiếu máu não não và cản trở đường thở nạn nhân dẫn đến suy hô hấp cấp là nguyên nhân tử vong của Nguyễn Thị H1.
  • + Vết xước da mảnh, nhỏ hình thành do vật tày có cạnh (dạng dấu vết đầu móng của ngón tay) tác động tạo nên.” (Bút lục 32-33)

Tại Kết luận giám định số 1181/KL-KTHS ngày 21/3/2024, V Bộ C2 kết luận:

  • “- Trên con dao nhọn gửi giám định có bám dính máu người và lá máu của Trương Đình T. Không phát hiện thấy ADN của Nguyễn Thị H1Luyện Thị H.
  • - Trên mẫu móng tay ghi thu của Trương Đình T có ADN của Trương Đình T, không có ADN của Nguyễn Thị H1Luyện Thị H.
  • - Mẫu ghi da vùng cổ tử thi Nguyễn Thị H1 có ADN của Nguyễn Thị H1, không có ADN của Trương Đình TLuyện Thị H.” (Bút lục 37-38)

Tại Kết luận giám định số 1185/KL-KTHS ngày 27/02/2024, V Bộ C2 kết luận: “Mẫu máu ghi thu của Trương Đình T gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn)” (Bút lục 41).

Tại Kết luận giám định số 1193B/KL-KTHS ngày 29/02/2024, V Bộ C2 kết luận:

“Trong mẫu phủ tạng và chất chứa trong dạ dày ghi thu của tử thi Nguyễn Thị H1 gửi giám định đều không tìm thấy các chất độc thường gặp” (Bút lục 44).

Tại Kết luận giám định số 1193A/KL-KTHS ngày 12/3/2024, V Bộ C2 kết luận:

“Hình ảnh phổi sung huyết, xuất huyết mạnh, phù phế nang rải rác, rách đứt vách phế nang; tụ máu mô liên kết quanh cơ vùng cổ và mô liên kết quanh khí quản” (Bút lục 46-56)

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 37/KLGĐ ngày 09/4/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc - Bộ Y kết luận:

  • “- Trương Đình T, sinh năm 1979, trú tại thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang bị bệnh Rối loạn loạn thần do rượu, bệnh có mã F10.5 (Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
  • - Tại thời điểm phạm tội ngày 19/02/2024, Trương Đình T bị bệnh Rối loạn loạn thần do rượu, (do hoang tưởng và ảo giác chi phối). Trương Đình T mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
  • - Hiện tại (tại thời điểm giám định) Trương Đình T bị bệnh rối loạn loạn thần do rượu, giai đoạn khỏi bệnh. Trương Đình T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.” (Bút lục 55-56)

Quá trình điều tra, Trương Đình T khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội của bản thân. Kết quả thực nghiệm điều tra, bị cáo T đã diễn tả lại hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của T các chứng cứ khác của vụ án (Bút lục 124-125).

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Đào Văn P là người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-P2 ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Trương Đình Thành về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Đình T khai nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 13; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trương Đình T từ 15 (Mười lăm) năm đến 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.
  • -Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • -Tịch thu, tiêu hủy:
    • + 01 con dao nhọn, lưỡi sắc dài 31,5cm, bản rộng nhất 5,5cm, chuôi dao dài 11,5cm, đã qua sử dụng và mẫu móng tay của Trương Đình T (được niêm phong theo quy định);
    • + 01 áo phông cộc tay màu đen của Trương Đình T đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định).
  • - Trả lại bị cáo Trương Đình T: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đã qua sử dụng của Trương Đình T (được niêm phong theo quy định) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Trả lại đại diện hợp pháp của bị hại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu xanh đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị H1 (được niêm phong theo quy định)

(Tất cả vật chứng được bàn giao theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang)

-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Đình T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Luật sư trình bày lời bảo chữa cho bị cáo:

Nhất trí với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay. Tuy nhiên Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là cao. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ như sau khi bị cáo phạm tội đã ra đầu thú và thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố mẹ bị cáo đều có công với cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bản thân bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt từ 09 năm đến 10 năm tù.

*Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và mức đề nghị của bản Luận tội đối với bị cáo.

Bị cáo nhất trí với lời bảo chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo để sớm trở về nuôi dậy con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã cơ bản thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

[2]. Về sự vắng mặt của những người đại diện hợp pháp của người bị hại tại phiên tòa hôm nay. Tuy nhiên chị G, chị L đã có văn bản Ủy quyền cho ông Đào Văn P tham gia tố tụng. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này và việc Ủy quyền là hợp pháp, nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về hành vi theo bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định vật chứng thu giữ, đã đủ căn cứ xác định:

Rạng sáng ngày 19/02/2024, tại gia đình bà Luyện Thị H, sinh năm 1952, trú tại thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Trương Đình T bị bệnh rối loạn loạn thần do rượu (do hoang tưởng và ảo giác chi phối) nên nghĩ đến việc có “ma” tìm giết mình và chị H1 ngoại tình với “ma” sinh ra cháu C nên khi chị H1 đang ngủ ở trạng thái nằm ngửa, đắp chăn ngang ngực, T đã ngồi lên bụng chị H1 và dùng 02 tay bóp cổ chị H1. Hậu quả, chị H1 bị chết do ngạt cơ học.

Theo kết luận giám định pháp y tâm thần, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 19/02/2024), Trương Đình T bị bệnh rối loạn loạn thần do rượu (do hoang tưởng và ảo giác chi phối) làm mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Như vậy, tại thời điểm gây án bị cáo mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi không do bệnh lý tự phát sinh mà thuộc trường hợp do sử dụng rượu, vì vậy bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 13 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người thành niên, chỉ vì sử dụng rượu, dẫn đến mắc bệnh hoang tưởng, ảo giác chi phối nên đã dùng tay bóp cổ chị H1 dẫn đến hậu quả chị H1 chết tại chỗ, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Với ý thức, hành vi, nguyên nhân phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra, thấy rằng Bản cáo trạng số: 35/CT-VKS-P2 ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trương Đình T về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật. Do đó cần xử lý bị cáo bằng Pháp luật hình sự mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.

[4]. Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; Tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có mẹ đẻ là bà Luyện Thị H được Bộ cấp giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến, tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; bố đẻ là ông Trương Đình T1 được Bộ trợ cấp một lần với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ. Bản thân bị cáo khi phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Do vậy cần áp dụng quy định tại điểm s, điểm q khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt:

Xét tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng như đã phân tích ở trên, đối chiếu với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, coi thường tính mạng của người khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo sợ cho gia đình và mọi người dân địa phương. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc với mức hình phạt tù cách ly bị cáo với xã hội một thời gian dài như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Đào Văn P là người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự cũng như tiền cấp dưỡng đối với bà Nguyễn Thị N và cháu Trương Chí C1, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu xanh đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị H1 (được niêm phong theo quy định) không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T nên trả lại cho người đại điện hợp pháp của chị H1
  • - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đã qua sử dụng của Trương Đình T (được niêm phong theo quy định) không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
  • - Đối với 01 con dao nhọn, lưỡi sắc dài 31,5cm, bản rộng nhất 5,5cm, chuôi dao dài 11,5cm, đã qua sử dụng và mẫu móng tay của Trương Đình T (được niêm phong theo quy định) liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
  • - Đối với 01 áo phông cộc tay màu đen của Trương Đình T đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định) không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8]. Đối với những vấn đề liên quan khác

Đối với bà Luyện Thị H có 01 vết thương rách da, dài 2cm tại mu bàn tay trái khi can ngăn T dùng dao tự sát. Do bà H bị thương tích nhẹ, không phải điều trị tại cơ sở y tế nào và không yêu cầu đề nghị gì nên cơ quan điều tra không đặt ra xem xét, xử lý.

[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt và điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 13; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Đình T: 15 ( Mười lăm ) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/02/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 01 con dao nhọn, lưỡi sắc dài 31,5cm, bản rộng nhất 5,5cm, chuôi dao dài 11,5cm, đã qua sử dụng và mẫu móng tay của Trương Đình T (được niêm phong theo quy định);
  • + 01 áo phông cộc tay màu đen của Trương Đình T đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định).

- Trả lại bị cáo Trương Đình T: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đã qua sử dụng của Trương Đình T (được niêm phong theo quy định) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại đại diện hợp pháp của bị hại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu xanh đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị H1 (được niêm phong theo quy định);

(Tất cả vật chứng được bàn giao theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Đình T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu HS,THS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Chung

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "giết người"

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Đình T phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger