TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 72/2024/KDTM-ST
Ngày: 16-8-2024.
V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Công Nhân;
- Bà Hồ Thị Lệ Thu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 – Tp ..
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Tp . HCM tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 167/2023/TLST-KDTM ngày 29 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2024/QÐST-KDTM ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E).
Địa chỉ: Tầng H văn phòng số L Tòa nhà V L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1981 (Có mặt)
- Ông Nguyễn Bảo Q (Vắng mặt)
Là đại diện uỷ quyền của nguyên đơn (Theo Văn bản uỷ quyền số 308/2023/EIB/PMH/UQ-QĐ ngày 18/9/2023).
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ.
Địa chỉ: I T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật của Công ty:
Ông Trần Tuấn A sinh năm 1990 – Vắng mặt.
Địa chỉ: A H, khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Tuyết H, sinh năm 1971 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Số A H, tổ B, khu phố F, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 28/7/2022, giữa Ngân hàng TMCP X – sau đây gọi tắt là E và Công ty Cổ phần Đ – sau đây gọi tắt là Công ty Đ có ký kết Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101. Theo đó, Ngân hàng đồng ý cấp tín dụng với số tiền 3.690.000.000 đồng cho Công ty; thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 31/01/2023 đến ngày 31/7/2023; trả một lần khi đáo hạn, trả hàng tháng vào ngày 25, kỳ hạn trả lãi cuối cùng là ngày 31/7/2023; lãi suất cho vay là 11%/năm trong 03 tháng đầu, sau đó lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ bản + 1,7%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay. Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân, Công ty đã nhận nợ theo Kế ước nhận nợ số 2101-LDS-230000041.
Tài sản đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng trên là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số 33, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở T cấp ngày 24/12/2021 cho bà Nguyễn Tuyết H theo Hợp đồng thế chấp số 26/EIB/PMH/KHDN/TSTC/2022 ngày 25/07/2022 tại Phòng Công chứng số 1 Thành phố H ngày 25/07/2022, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/7/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, Công ty Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tạm tính đến ngày 18/9/2023, Công ty Đ còn nợ lại: Nợ gốc: 3.690.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 37.343.861 đồng; Lãi quá hạn: 78.020.753 đồng; lãi phạt chậm trả lãi: 552.246 đồng. Tổng cộng: 3.805.916.860 đồng.
2. Ngày 20/9/2022, Ngân hàng và Công ty Đ ký kết Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tín dụng doanh nhân; Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế. Theo đó, Ngân hàng đã cấp cho Công ty Đ hạn mức tín dụng cụ thể:
- Hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 đồng.
- Mục đích sử dụng: Phục vụ nhu cầu công tác, giao tiếp và thanh toán chi phí liên quan.
- Thời hạn sử dụng thẻ: 36 tháng, định kỳ 12 tháng đánh giá lại duy trì hạn mức.
- Người sử dụng thẻ: Nguyễn Tuyết H.
- Nguồn trả nợ: Từ doanh thu của Công ty và lợi nhuận tích lũy
Tính đến ngày 18/9/2023, tất cả các khoản thẻ của Công ty Đ đã quá hạn, cụ thể:
- Nợ gốc: 95.253.555 đồng.
- Lãi: 5.816.203 đồng.
- Tổng cộng: 101.069.758 đồng.
Tại các Biên bản làm việc ngày 03/8/2023 và 16/8/2023, Công ty Đ có ý kiến: “Hiện Công ty đã ngưng hoạt động, Công ty cam kết sẽ thanh toán hết gốc lãi dư nợ và thẻ tín dụng khi được Chủ tài sản ủy quyền cho đại diện pháp luật của Công ty T1 quyết định các thủ tục liên quan đến tài sản (mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn, thế chấp...). Nếu Chủ tài sản không phối hợp để cùng giải quyết vấn đề trên thì E tiến hành khởi kiện để thu hồi nợ theo quy định”.
Tại Thông báo số 226/2023/EIB.PMH/TB-GĐ ngày 03/8/2023 của E thông báo về việc khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 7 do Công ty Đ chưa tất toán khoản nợ vay và dư nợ Thẻ Tín dụng Visa Business.
Tại Đơn khởi kiện ngày 18/09/2023, E đề nghị Tòa án nhân dân Quận 7 buộc Công ty Đ thanh toán cho E tổng số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/9/2023 là 3.906.986.618 đồng, bao gồm khoản vay theo các Khế ước nhận nợ là 3.805.916.860 đồng và Thẻ tín dụng doanh nhân là 101.069.758 đồng. Tiền lãi tiếp tục được tính theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tín dụng doanh nhân và Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế đã ký cho đến khi Công ty Đ trả xong nợ. Trường hợp Công ty Đ không trả nợ, trả không đủ nợ thì phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số 33, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 24/12/2021 thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà Nguyễn Tuyết H. Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Công ty Đ tiếp tục thanh toán cho đến khi xong nợ.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của E đề nghị Tòa án nhân dân Quận 7 buộc Công ty Đ thanh toán cho E tổng số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 16/8/2024 theo Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Khế ước nhận nợ số 2101-LDS-230000041 ngày 31/1/2023 là 4.339.546.519 đồng, bao gồm: Nợ gốc 3.690.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 442.839.476 đồng;
Lãi quá hạn: 206.707.043 đồng và theo Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tín dụng doanh nhân ngày 20/9/2022, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế là 130.603.189 đồng, bao gồm: Nợ gốc 95.253.555 đồng; Lãi vay thẻ tín dụng: 35.349.634 đồng. Tổng cộng số tiền nợ phải thanh toán tạm tính đến 16/8/2024 mà Công ty Đ phải trả cho E là 4.470.149.708 đồng
Ngoài ra, kể từ ngày 17/8/2024, Công ty Đ còn phải trả cho E tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tính dụng doanh nhân ngày 20/9/2022, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế cho đến khi thanh toán hết nợ còn nợ lại.
- Ngay sau khi Công ty Đ thanh toán hết nợ thì E có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục giải chấp và hoàn trả lại cho bà Nguyễn Tuyết H bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 24/12/2021.
Trong trường hợp Công ty Đ không thanh toán hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì thì E được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp tài sản Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26/EIB/PMH/KHDN/TSTC/2022 ngày 25/7/2022 để thu hồi nợ.
Trong trường hợp số tiền phát mãi tài sản thế chấp còn dư thì trả lại cho bà Nguyễn Tuyết H nhưng nếu số tiền phát mãi không đủ để thanh toán nợ cho E thì Công ty Đ còn phải tiếp tục trả số tiền còn nợ lại.
Bị đơn là Công ty Đ đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo hòa giải; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QÐST-KDTM ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2024/QÐST-KDTM ngày 17/7/2024 nhưng Công ty Đ vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Tuyết H trình bày:
Năm 2009, bà có dùng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số 33, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 24/12/2021 để thế chấp bảo lãnh cho khoản vay của Công ty Đ với số dư nợ 3.690.000.000 đồng. Do thị
trường có biến động ảnh hưởng quá trình giao hàng và thu hồi hàng dẫn đến khoản vay trên quá hạn tín dụng. Bà đề nghị Ngân hàng cho gia hạn thêm thời gian đến hết ngày 30/5/2024 để có thể tất toán cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
- Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đại diện ủy quyền của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là Công ty Đ phải trả số tiền còn nợ lại theo Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Khế ước nhận nợ số 2101-LDS-230000041 ngày 31/1/2023, Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tín dụng doanh nhân ngày 20/9/2022, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Kết quả cung cấp chứng cứ của Sở kế hoạch đầu tư Thành phố T thì Công ty Đ có địa chỉ trụ sở tại: Số I T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; có người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Trần Tuấn A, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A H, khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
2. Về hình thức:
Đối với bị đơn là Công ty Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Tuyết H mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ để để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Khế ước nhận nợ số 2101-LDS-220000409 ngày 28/7/2022, Khế ước nhận nợ số 2101-LDS-230000041 ngày 31/1/2023, Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tính dụng doanh nhân ngày 20/9/2022, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế đủ cơ sở để kết luận: E có cho Công ty Đ vay số tiền 3.690.000.000 đồng với mục đích vay là để bổ sung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất cho vay là 11%/năm trong 03 tháng đầu, sau đó lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ bản + 1.7%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay và 01 Thẻ Visa Business với hạn mức thẻ tín dụng là 100.000.000 đồng, mục đích sử dụng là để phục vụ nhu cầu công tác, giao tiếp và thanh toán chi phí liên quan, thời hạn sử dụng thẻ 36 tháng, định kỳ 12 tháng đánh giá lại duy trì hạn mức, người sử dụng thẻ Nguyễn Tuyết H, nguồn trả nợ từ doanh thu của Công ty và lợi nhuận tích lũy.
Căn cứ vào các bản sao kê Thẻ Visa Business tháng 6/2023, 7/2023, 8/2023, 9/2023, 10/2023 và lời trình bày của đại diện theo E tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn là Công ty Đ còn nợ E tính
đến ngày 16/8/2024 theo Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022 tổng cộng: 4.339.546.519 đồng: Tiền nợ gốc: 3.690.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn: 442.839.476 đồng; Tiền lãi quá hạn: 206.707.043 đồng; và tiền nợ theo Thẻ tín dụng tổng cộng: 130.603.189 đồng: Nợ gốc: 95.253.555 đồng, tiền lãi 35.349.634 đồng. Tổng số tiền Công ty Đ còn nợ lại E: 4.470.149.708 đồng
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là Công ty Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trình bày của nguyên đơn được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là E, buộc bị đơn Công ty Đ phải thanh toán tiền 4.470.149.708 đồng
Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ ngày 17/8/2024, Công ty Đ còn phải thanh toán cho E tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tính dụng doanh nhân ngày 20/9/2022, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế cho đến khi thanh toán hết nợ.
[3.2] Về yêu cầu phát mãi tài sản chế chấp:
Căn cứ vào các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26/EIB/PMH/KHDN/TSTC/2022 ngày 25/7/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 24/12/2021; Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 27/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản giao nhận hồ sơ tài sản đảm bảo với khách hàng ngày 25/7/2022, đủ cơ sở xác định tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 523, tờ bản đồ số 33, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 24/12/2021 cho bà Nguyễn Tuyết H để thế chấp bảo lãnh cho khoản vay của Công ty Đ với số dư nợ 3.690.000.000 đồng.
Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì phần đất thế chấp trên có hiện
trạng thửa đất không có thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283.
Căn cứ vào các Điều 317, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 293, Điều 294, Điều 298, Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu của E về việc phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26/EIB/PMH/KHDN/TSTC/2022 ngày 25/7/2022 trong trường hợp Công ty Đ không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ lại thì E được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp trên để thu hồi toàn bộ dư nợ. Trong trường hợp số tiền do phát mãi tài sản thế chấp còn dư thì trả lại cho bà Nguyễn Tuyết H nhưng nếu số tiền phát mãi không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Công ty Đ còn phải tiếp tục trả số tiền còn nợ lại. Trong trường hợp, Công ty Đ đã trả hết khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả lại cho bà Nguyễn Tuyết H toàn bộ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 24/12/2021
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và tiền án phí: Do yêu cầu của E được chấp nhận nên Công ty Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 463, Điều 317, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 293, Điều 294, Điều 298, Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005.
- Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Về hình thức: Xét xử vắng bị đơn Công ty Cổ phần Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Tuyết H.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E)
- Buộc Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X (E) số tiền nợ tính đến ngày tính đến ngày 16/8/2024 là 4.470.149.708 đồng, bao gồm: Nợ theo Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Khế ước nhận nợ số 2101-LDS-230000041 ngày 31/1/2023 là 4.339.546.519 đồng, bao gồm: Nợ gốc 3.690.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 442.839.476 đồng; Lãi quá hạn: 206.707.043 đồng và nợ theo Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tín dụng doanh nhân ngày 20/9/2022, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế là 130.603.189 đồng, bao gồm: Nợ gốc 95.253.555 đồng; Lãi vay thẻ tín dụng: 35.349.634 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 17/8/2024, Công ty Cổ phần Đ còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E) tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh toán thẻ tính dụng doanh nhân ngày 20/9/2022, Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế cho đến khi thanh toán hết nợ còn nợ lại.
- Ngay sau khi Công ty Cổ phần Đ thanh toán hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Khế ước nhận nợ số 2101-LDS-230000041 ngày 31/1/2023 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E) có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục giải chấp và hoàn trả lại cho bà Nguyễn Tuyết H bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 049283, số vào sổ cấp GCN: CS05697 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T cấp ngày 24/12/2021.
- Trong trường hợp Công ty Cổ phần Đ không thanh toán hoặc thanh toán nợ không đầy đủ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số LAV220065403/2101 ngày 28/7/2022, Phụ lục, Khế ước nhận nợ số 2101-LDS-230000041 ngày 31/1/2023 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E) được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp tài sản Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26/EIB/PMH/KHDN/TSTC/2022 ngày 25/7/2022 để thu hồi nợ.
Trong trường hợp số tiền phát mãi tài sản thế chấp còn dư thì trả lại cho bà Nguyễn Tuyết H nhưng nếu số tiền phát mãi không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E) thì Công ty Cổ phần Đ còn phải tiếp tục trả số tiền còn nợ lại.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Công ty Cổ phần Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 6.000.000 đồng theo Phiếu thu số 37 ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Cổ phần Đ phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 112.470.150 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E) không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. H1 lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 55.069.866 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0037615 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E).
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
6. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày từ ngày tống đạt hợp lệ bản sao bản án hoặc được niêm yết hợp lệ tại địa phương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phương |
Bản án số 72/2024/KDTM-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng (hợp đồng vay tài sản)
- Số bản án: 72/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng (Hợp đồng vay tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng - Công ty AK
