Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 72/2024/HS-ST

Ngày 16-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Tới
  2. Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Tú C, tên gọi khác (Nguyễn Tú T), sinh ngày 1976, giới tính: Nam.

Chỗ ở: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết), con bà: Ngô Thị H (đã chết), A, em ruột: 04 người (Lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất là bị cáo). Vợ Nguyễn Thị D, sinh năm 1980 (đã ly hôn); Con: 01 người sinh năm 2010; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án:

  • + Tại bản án số: 93/2019/HS-ST ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2020. Nộp xong án phí hình sự ngày 07/01/2020.
  • + Tại bản án số: 72/2021/HSST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2022. Nộp xong án phí hình sự ngày 16/6/2022.

- Nhân thân:

  • + Tại bản án số: 55/2000/HSST ngày 25/5/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 18 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 1985 (đã được xóa án tích).
  • + Tại Quyết định số 59/QĐ/CTUB ngày 15/4/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục thời gian la 18 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong quyết định ngày 26/10/2003 (đã được xóa).
  • + Tại Quyết định số 42/QĐ/CTUB ngày 27/01/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục thời giản là 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong quyết định ngày 28/01/2007 (đã được xóa).
  • + Tại Quyết định số 1887/QĐ/CTUB ngày 07/12/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục thời gian là 18 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong quyết đình ngày 30/9/2014 (đã được xóa).
  • + Tại Quyết định số 01/2017/QĐ-TA ngày 20/01/2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Chấp hành xong quyết định ngày 09/01/2019 (đã được xóa).

Bị cáo bị bắt quả tang từ ngày 06/02/2024 đến ngày 13/02/2024 chuyển tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 06/02/2024, bị cáo C điều khiển xe mô tô đi chợ, thì gặp người bạn tên "T1" ở thành phố C và vào quản uống cà phê cùng với T1. T1 biết bị cáo C có sử dụng ma túy đá, nên T1 hỏi bị cáo C "còn chơi ma túy không? Bị cáo C trả lời "thỉnh thoảng có chơi", thì T1 kêu bị cáo C chạy xe theo T1 lên Cà Mau T1 cho ma túy về sử dụng, bị cáo C đồng ý. Sau đó, bị cáo C1 một mình điều khiển xe chạy theo T1 đến phường H, thành phố C, bị cáo C dừng xe ngoài lộ đợi, còn T1 chạy xe đi khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho bị cáo C 01 bịch nylong màu trắng, viền màu đỏ được bóp kín miệng bên trong có chứa ma túy đá, bịch ma túy được để trong vỏ bao thuốc là hiệu SEVEN DIAMONDS, Bị cáo C lấy vỏ bao thuốc lá có chứa ma túy cất vào túi quần Jean phía trước bên phải đang mặc trên người, rồi điều khiển xe quay về đến lộ Bờ Nam S.

Vào lúc 20 giờ 05 phút ngày 06/02/2024, Công an thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, nghi vấn bị cáo C liên quan đến tội phạm ma túy nên tiến hành kiểm tra người và phương tiện xe mô tô của bị cáo C khi đang dừng xe trên vỉa hè lộ Bờ Nam đoạn trước nhà của bị cáo C thuộc khóm D, thị trấn S, huyện T. Qua kiểm tra trên người bị cáo C phát hiện trong túi quần Jean bên phải phía trước cảu bị cáo C đang mặc trên người có 01 bao thuốc là hiệu SAVEN DIAMONDS bên trong bao thuốc lá có 01 bịch nylong màu trắng có viền màu đó được bóp kin miệng bên trong bịch nylong có chứa chất tỉnh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong tang vật theo quy định.

Ngoài ra, trong quá trình kiểm tra bắt quả tang lực lượng Công an còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh (đã qua sử dụng) có gắn sim số 0943.139.882.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 06/02/2024, kết Nguyễn Tú C dương tính với chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số: 74/KL-KTHS ngày 12 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nylong màu trắng có viền màu đỏ được bóp kín miệng, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,3641gam, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/ND-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận ma túy thu giữ khi bị bắt quả tang là của bị cáo cất giấu mục đích để sử dụng.

Tại Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Tú C (Nguyễn Tú T) về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo bị cáo Nguyễn Tú C (Nguyễn Tú T) về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo C từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù.

Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng:

Tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu số 74/KL-KTHS ngày 12/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, 01 vỏ bao thuốc lá SEVEN DIAMONDS.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại cảm ứng hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0943.139.882.

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì đối với Đại diện viện kiểm sát; bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T2, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo C tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở để chứng minh: Vào lúc 20 giờ 05 phút ngày 06/02/2024, Nguyễn Tú C đã cất giấu trái phép 4,3641 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được Bộ luật hình sự quy định. Mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo có hai tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, tính đến lần phạm tội này bị cáo tái phạm nguy hiểm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo C có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời là có căn cứ.

Khoản 1 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bản, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

o) Tái phạm nguy hiểm."

[3] Tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra:

Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng bị cáo xem thường pháp luật, vẫn lao vào con đường phạm tội, gây ảnh hưỡng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo C thành khẩn khai báo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người làm thuê, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án: Tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu số 74/KL-KTHS ngày 12/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, 01 vỏ bao thuốc lá SEVEN DIAMONDS.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại cảm ứng hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0943.139.882 do không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Các vật chứng, tài sản trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn T2 đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024.

[7] Đối với đối tượng tên T1, bị cáo khai ma túy của T1 cho và không rõ lai lịch. Từ đó, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với đối tượng tên T1 nên tách ra tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với những lần sử dụng ma túy trước ngày bị bắt quả tang, không xác định được người cung cấp ma túy, không thu giữ được chất ma túy để giám định nên không có căn cứ xử lý bị cáo về những lần trước đó. Tuy nhiên, qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Tú C kết quả dương tính với chất ma túy, nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

[8] Phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tú C phải nộp 200.000 đồng (án phí hình sự sơ thẩm).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tú C (Nguyễn Tú T) phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tú C (Nguyễn Tú T) 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt người phạm tội quả tang ngày 06/02/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu số 74/KL-KTHS ngày 12/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, 01 vỏ bao thuốc lá SEVEN DIAMONDS.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tú C (Nguyễn Tú T) 01 điện thoại cảm ứng hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0943.139.882.

    Các vật chứng, tài sản trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn T2 đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Tú C (Nguyễn Tú T) phải nộp 200.000 đồng (án phí hình sự sơ thẩm).

Án xử sơ thẩm công khai: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo luật định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - CAND huyện Trần Văn Thời;
  • - THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Bị cáo (1b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Len

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 72/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tú T bị truy tố tội tàng trử trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger